Chẩn đoán và điều trị đau xơ cơ: Thông báo trường hợp điều trị thành công – Bệnh viện Quân Y 103

Bài viết Chẩn đoán và điều trị đau xơ cơ: Thông báo trường hợp điều trị thành công – Bệnh viện Quân Y 103 thuộc chủ đề về Giải Đáp Thắc Mắt thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng HangNhatCaoCap.com.vn tìm hiểu Chẩn đoán và điều trị đau xơ cơ: Thông báo trường hợp điều trị thành công – Bệnh viện Quân Y 103 trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem nội dung về : “Chẩn đoán và điều trị đau xơ cơ: Thông báo trường hợp điều trị thành công – Bệnh viện Quân Y 103”

Thông tin chi tiết về Chẩn đoán và điều trị đau xơ cơ: Thông báo trường hợp điều trị thành công – Bệnh viện Quân Y 103


Xem nhanh

Tóm tắt:

Đặt vấn đề: Đau xơ cơ (ĐXC) là một hội chứng với biểu hiện đau cơ, dây chằng, gân, tổ chức liên kết lan tỏa, mạn tính và rất nhạy cảm với áp lực nhưng không có tổn thương thực thể tại cơ, xương, khớp với những điểm đau đặc hiệu và các triệu chứng mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ, cứng khớp, khó nuốt, rối loạn cơ vòng, rối loạn nhận thức, cảm giác tê, kim châm và một số triệu chứng tâm thần như trầm cảm, lo sợ và các rối loạn liên quan stress. Bệnh còn rất ít được đề cập tới ở Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu: thông báo một trường hợp ĐXC được chẩn đoán phù hợp với tiêu chuẩn của ACR và điều trị thành công. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả trường hợp bệnh nhân Hoàng Mạnh L. Kết luận: ĐXC có thể được chẩn đoán dễ đàng theo tiêu chuẩn của ACR và điều trị thành công bằng các thuốc chống động kinh được khuyến cáo kết hợp với amitryptilin.

Sumary:

Background: Fibromyalgia is a syndrome manifesting clinically in chronic diffusepain in muscle, ligaments, tendons, connective tissue…on the body with specific tender points and many other symptoms like sleep problem, joint stiffness, fatigue, depression…It is not well-knowned in Vietnam yet. Purpose: anouncing a ACR-criteria well-matched and successfully treated patient. Subject and method: case report of patient Hoang Manh L. Conclusion: Fibromyalgia can easily diagnosed according to ACR-criteria an can successfully treated with recommended antiepileptic drugs in combination with amitriptylin.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau xơ cơ (ĐXC) gọi theo thuật ngữ quốc tế là Fibromyalgia. Bệnh được mô tả lần đầu tiên vào năm 1976 và tên bệnh được ghép lại từ các gốc từ như sau: theo tiếng Latin “fibro-” nghĩa là xơ, theo tiếng Hy lạp “myo-” nghĩa là cơ và “algos-” là đau. Tựu chung lại ĐXC được gọi để ám chỉ biểu hiện đau cơ, dây chằng, gân, tổ chức liên kết và rất nhạy cảm với áp lực nhưng không có tổn thương thực thể tại cơ, xương, khớp. Đây là một bệnh lý nội khoa đặc trưng bởi đau và dị cảm đau (allodynia) tiến triển mạn tính và phân bố lan rộng trên cơ thể. Bảng lâm sàng của ĐXC không chỉ là đau mà còn thường có thêm các triệu chứng mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ, cứng khớp, khó nuốt, rối loạn cơ vòng, rối loạn nhận thức, cảm giác tê, kim châm và một số triệu chứng tâm thần như trầm cảm, lo sợ và các rối loạn liên quan stress, chính vì vậy trong thực tế người ta hay gọi là “Hội chứng đau xơ cơ”.

Bác sỹ Muhammad B. Yunus là người công bố những nghiên cứu lâm sàng đầu tiên về bệnh này vào năm 1981. Năm 1987, Bệnh được Trường đại học Thấp Khớp Mỹ (Armerican College of Rheumatology – ACR) công nhận là một chứng bệnh và có thể gây tàn phế đồng thời tiêu chuẩn chẩn đoán của bệnh cũng được ACR đưa ra vào năm 1990.

Hầu hết các bệnh nhân ĐXC đều có biểu hiện đau toàn thân với tính chất đau căng cơ như sau khi làm việc nặng, có thể có cảm giác đau xoắn vặn, đau bỏng rát ở các cơ. ĐXC gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng hay gặp nhất ở lứa tuổi từ 50 đến 60, nữ mắc nhiều hơn nam. Nhiều thống kê cho thấy, ĐXC gặp ở khoảng 2% dân số. Ở Mỹ, hàng năm có tới 3-6 triệu ngưòi mắc chứng bệnh này.  Đặc biệt bệnh hay gặp ở những bệnh nhân đã bị mắc các bệnh khớp mạn tính như: viêm khớp dạng thấp, luput ban đỏ hệ thống, viêm cột sống dính khớp…. ĐXC tuy không ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng người bệnh nhưng mức độ nặng nề của bệnh, sự tiến triển tăng dần và bền vững theo thời gian gây ảnh hưởng nhiều và sâu sắc đến chất lượng cuộc sống, khả năng sinh hoạt và hoạt động xã hội của bệnh nhân.

* Bộ môn – Khoa Nội Thần kinh, Bệnh viện 103, Học viện Quân y

Không có liệu pháp điều trị đặc hiệu cho đau xơ cơ, chủ yếu là điều trị các triệu chứng của bệnh. Theo khuyến cáo điều trị của Hội Thấp Khớp Học châu Âu  tháng 9/2001 (The European League Against Rheumatism-EULAR), bệnh được điều trị bằng các biện pháp: giảm đau, giãn cơ, phong bế tại chỗ, thuốc chống trầm cảm, thuốc ức chế chọn lọc serotonin, thuốc kháng dopamine,thuốc kích thích thần kinh trung ương…

Ở Việt Nam ĐXC đã được đề cập tới trong một vài hội thảo chuyên ngành, tuy nhiên mặt bệnh này vẫn còn xa lạ với các nhà chuyên môn, và nhất là đối với các bệnh nhân. Là những người làm công tác điều trị, nắm bắt được thông tin về ĐXC, riêng trong tháng 4 năm 2011 đã trực tiếp chẩn đoán và điều trị thành công căn bệnh này cho 03 bệnh nhân tại Khoa Nội Thần kinh Bệnh viên 103, nay xin thông báo tới quý đồng nghiệp và độc giả một trường hợp điển hình đã được điều trị thành công.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.1. Giới thiệu đối tượng

Họ và tên bệnh nhân: Nguyễn Mạnh L. 21 tuổi, quê ở  Hải Dương.

Đặc điểm nhân cách: có nghị lực, có niềm tin và hoài bão, có trí tuệ và trình độ, quyết tâm chữa bệnh cao. Gia đình rất đồng cảm, thương con và quyết tâm, kiên trì để chữa bệnh cho con.

Các mốc bệnh lý: bệnh khởi phát năm 14 tuổi, tiến triển nặng lên rõ rệt và diễn biến xấu đi rất trầm trọng vào năm 18 tuổi, khi học thi tốt nghiệp phổ thông trung học. Bệnh nhân vào đại học năm 2010, ngay trong năm học thứ nhất (2010-2011) đau tăng trầm trọng không chịu nổi nên đã xin nghỉ học để đi chữa bệnh. Tháng 3 năm 2011, bệnh nhân được giới thiệu tới Khoa Nội Thần kinh Bệnh viện 103- HVQY điều trị nội trú, sau đó được điều trị củng cố ngoại trú và bệnh khỏi vào tháng 5 năm 2011.

2.1.2.Bênh sử

Xin tóm tắt lại những ý chính trong các trang tự khai của bệnh nhân như sau:

Biểu hiện đầu tiên của bệnh (năm bệnh nhân 14 tuổi) là mệt mỏi, mệt thường xuyên liên tục, giấc ngủ chập chờn và không sâu, đặc biệt là cảm giác đau toàn bộ cơ thể. Đau lan toả, không có giới hạn, không khu trú rõ ràng. Lúc nào người cũng uể oải không muốn làm việc. Bệnh nhân đã đi khám bệnh tại các cơ sở y tế, kết quả khám lâm sàng và các xét nghiệm thường quy luôn trong giới hạn bình thường, không tương xứng với tình trạng bệnh lý. Về điều trị, các bác sỹ cho dùng các thuốc giảm đau, các vitamin. Bệnh không đỡ gia đình lại đưa bệnh nhân đi khám tại cơ sở y tế khác, hành trình chữa bệnh cứ như vậy, liên tục…và bệnh nhân vẫn cứ cố gắng đi tìm kiếm cho mình một lời giải thích thỏa đáng, kể cả tự “lang thang” trên mạng internet.

Tuy vậy bệnh vẫn không thuyên giảm mà ngược lại ngày một tăng hơn. Bệnh tiến triến liên tục cho tới khi bệnh nhân phải tập trung học hành thi cử cuối cấp 3 thì mọi việc trở nên xấu đi rất nhiều. Khi đó bệnh nhân luôn có cảm giác đau toàn thân, đau dữ dội và đau sâu trong cơ bắp, đau như co thắt trong các cơ toàn thân, đau như  rát bỏng ở đầu, vai, lưng, tay, chân…Đau thường dữ dội vào buổi sáng, và buổi tối và nhất là khi thay đổi thời tiết.

Bệnh nhân mất ngủ, mỗi đêm chỉ ngủ được (3-4h), giấc ngủ không sâu, thường xuyên mộng mị và dậy không ngủ lại được. Đau đầu, đau toàn bộ đầu nhưng đôi lúc tập trung 2 bên thái dương và vùng chẩm, không có cảm giác chóng mặt, buồn nôn, hay nhìn mờ…

Các triệu chứng khác: thường có biểu hiện đau ngực, cứng khớp buổi sáng, tê buốt đầu chi, cảm giác sưng nề đầu chi, đặc biệt vào mùa đông.

Mặc dù là một sinh viên có nghị lực và khả năng chịu đựng rất cao, về tư tưởng thì đã xác định là sống chung với bệnh từ nhiều năm nay, nhưng bệnh nhân vẫn không thể chịu đựng đau đớn hơn được nữa, những đêm mất ngủ triền miên, tình trạng lo lắng…tất cả làm bệnh nhân không thể tập trung học tập được. Bệnh nhân đã xin nghỉ, bảo lưu kết quả học tập để đi chữa bệnh.

Tháng 4 năm 2011, bệnh nhân đến khoa chúng tôi trong tình trạng lo lắng và thất vọng với một tập xét nghiệm, phim chụp và đơn thuốc…xin được điều trị.

2.1.3. Khám lâm sàng

Tình trạng thần kinh (neurostatus) và tâm thần (psychostastus) bình thường, không có căn cứ để khẳng đình có tổn thương thần kinh trung ương cũng như ngoại vi.

Ấn đau lan toả toàn bộ cơ thể. Đặc biệt có những điểm ở vùng chẩm, cổ, gáy,ở đai vai, ngực, hông…cảm giác đau luôn thường trực và ấn thấy đau chói, đau lan sang vùng ké cận.Vận động các chi thụ động cũng như chủ động làm bệnh nhân đau tăng.

2.1.4. Cận lâm sàng

Chúng tôi tiến hành làm những xét nghiệm cần thiết sau:

Xét nghiệm công thức máu.

Các xét nghiệm máu khác: Các hormon tuyến giáp, ion canxi, phosphatase kiềm, Xét nghiệm men CPK, Xét nghiệm máu khác để loại trừ các bệnh có yếu tố thấp (lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp dạng thấp, viêm đa cơ…) gồm tốc độ lắng hồng cầu (ESR ), điện di protein huyết thanh (SPEP), kháng thể kháng nhân (ANA ), và các yếu tố gây viêm khớp (RF )….

Các chẩn đoán cận lâm sàng khác: Điện tim, điện não, XQ tim phổi thẳng, nghiêng…

Tất cả các kết quả cận lâm sàng trên đều trong giới hạn bình thường.

2.2. Chẩn đoán bệnh

Hiện nay chưa có xét nghiệm đặc hiệu để chẩn đoán đau xơ cơ.

2.2.1. Căn cứ chẩn đoán

Tiêu chuẩn chẩn đoán đau xơ cơ 1990 của ACR

Tiền sử có đau lan toả kéo dài trên 3 tháng: đau lan rộng ¾ cơ thể (đau một bên hoặc cả hai bên thân người, đau phía trên hoặc phía dưới ngang eo cột sống thắt lưng).

Có điểm đau (tender points): bao gồm 18 điểm trên toàn cơ thể. Khi chẩn đoán có thể dùng lực 4 kilogam ấn vào các điểm đau (áp lực ấn ngón tay cái của thầy thuốc vào các điểm đau), Đau xơ cơ được chẩn đoán xác định khi người bệnh có 11/18 điểm đau (đầu, cổ, mông, vai, cánh tay, lưng, thắt lưng…).

image

Dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán và đối chiếu trên lâm sàng của bệnh nhân Nguyễn Mạnh L. Bệnh nhân có đủ triệu chứng và hội chứng để chẩn đoán Đau xơ cơ.

2.3. Phương pháp điều trị

Thuốc giảm đau thần kinh: Pregabalin (Lyrica 75mg uống 2v/ngày) sử dụng thuốc trong 45 ngày.

Thuốc giãn cơ: các thuốc giãn cơ được dùng phối hợp với thuốc giảm đau trong điều trị bệnh: Myonal 50mg uống 2v/ngày dùng trong 15 ngày.

Chỉ định phong bế một số trong các điểm đau (tender points) bằng corticoid (Hydrocortison, Depo-Medrol…).

Thuốc chống trầm cảm: Amitriptylin 25mg uống 3v/ngày uống (sáng, trưa, tối). Dùng thuốc trong 15 ngày.

Ngoài ra sử dụng các thuốc chống gốc tự do: Truyền Vitaplex, Glutathion reduced, Vitamin C…

Thuốc an tĩnh: Seduxen 5mg trong 10 ngày.

3. KẾT QUẢ

Kết quả điều trị cho bệnh nhân Mạnh L. hết sức khả quan, vượt ngoài mong đợi của em và gia đình sau một hành trình dài đi khám bệnh và điều trị.

Ngay trong những ngày đầu tiên việc điều trị tại bệnh viện các triệu chứng đã có chiều hướng thuyên giảm.

Sau 2 tuần điều trị trong bệnh viện các triệu chứng bệnh giảm hơn, đau xuất hiện ít hơn, mức độ nhẹ hơn nhưng cũng chưa đáng kể (giảm khoảng 20%).

Sau 3 đợt điều trị ngoại viện, mỗi đợt 15 ngày, các đợt cách nhau từ 15 ngày đến một tháng, các triệu chứng bệnh của Mạnh L. được cải thiện dần cho đến gần như khỏi. Cụ thể:

+ Sau đợt điều trị ngoại viện đầu tiên (15 ngày), đau giảm khá nhiều về cả tần suất đau, mức độ đau và số lượng vị trí đau, chỉ còn đau tập trung tại các điểm: hai bên thái dương, trước trán, vai, lưng, chân,. Bệnh nhân ngủ dễ hơn, tinh thần phấn chấn hơn (giảm được khoảng 50%).

+ Sau đợt điều trị thứ hai (15 ngày) thì bệnh của  Mạnh L. được cải thiện rõ rệt, chỉ còn đau khu trú ở vai và lưng, đau chỉ còn ở mức độ nhẹ, em ngủ khá ngon, khả năng học tập và làm việc được nâng lên đáng kể, ăn uống ngon miệng, tăng cân, khí sắc tươi tắn hẳn lên so với lúc đầu (giảm được khoảng 70 – 80%).

+ Kết thúc liệu trình điều trị với 15 ngày điều trị cuối cùng của đợt 3, Mạnh L. vô cùng hạnh phúc vì gần như khỏi bệnh hoàn toàn: không còn đau, không còn cảm giác tê kiểu kiến bò, ngủ ngon,  không còn cảm giác mệt mỏi thay vào đó là một trạng thái thoải mái, dễ chịu, học  tập và làm việc đạt hiệu quả, tiếp thu bài tốt. Mạnh. L trở lại là một nữ sinh tươi tắn, khỏe khoắn, đầy hưng phấn và nhiệt huyết của tuổi trẻ trên con đường thực hiện ước mơ và hoài bão của mình.

+ Từ đó tới nay, sau các đợt kiểm tra lại bệnh nhân hoàn toàn khỏe mạnh.

4. BÀN LUẬN

ĐXC không phải là một bệnh hiếm trên thế giới, theo các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài thì ĐXC gặp ở khoảng 1 – 3% dân số, thường xuất hiện ở lứa tuổi 30 – 60, chủ yếu gặp ở nữ giới (trên 80%), những con số này tương tự trong tất cả các nước phương Tây, người già và trẻ em cũng có thể mắc bệnh nhưng hiếm gặp hơn. Việc chẩn đoán và điều trị đã thuần thục trong các bệnh viện ở các nước trên thế giới.

Ở Việt Nam, tuy đã có những bài nói, những cuộc hội thảo về ĐXC nhưng những thông tin và kiến thức về bệnh vẫn còn ở phạm vi hẹp, chưa được cập nhật và phổ biến rộng rãi, kể cả trong y giới và cũng chưa có nghiên cứu nào trong nước đề cập tới mặt bệnh này. Ngay ở trong khu vực Đông Nam Á những nghiên cứu và thông báo về ĐXC cũng còn rất hiếm.

Bệnh nhân Hoàng Mạnh L. của chúng tôi có tuổi khới phát tương đối sớm, bệnh tiến triển hầu như tự nhiên vì các chỉ định điều trị chưa đúng hướng và giai đoạn cuối bệnh đã ảnh hưởng sâu sắc đến sinh hoạt hàng ngày và ảnh hướng cả tới hoạt động xã hội. Với bảng lâm sàng rất điển hình nên khi bệnh nhân đến với chúng tôi thì việc chẩn đoán cũng khá dễ dàng, mà bản thân bệnh nhân, sau đó cũng bộc bạch là có một thời gian tham khảo trên mạng internet cũng đã tự chẩn đoán cho mình là bị ĐXC, ở bệnh nhân cũng có điều thuận lợi là không có các bệnh khác phối hợp. Việc điều trị của bênh nhân đã thành công mỹ mãn, tuy nhiên trong quá trình điều trị sự nhạy bén, thay đổi, phối hợp thuốc cũng là đòi hỏi cần thiết. chúng tôi thấy, sự kiên định với một phác đồ thường không đạt được hiệu quả điều trị như ý (ví dụ như trong 2 tuần nằm nội trú bệnh chỉ đỡ 20%). Sau đó chúng tôi đã thay đổi phác đồ cho phù hợp với mỗi đợt điều trị và còn có thêm thuốc phối hợp nên hiệu quả điều trị đã được cải thiện rõ rệt.

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Bệnh nhân Hoàng Mạnh L. là một trường hợp ĐXC điển hình được chẩn đoán theo ACR đúng và điều trị thành công theo phác đồ Lyrica + Elavin + Giãn cơ + An tĩnh thần kinh + Vitamin nhóm B.

Cần nghĩ tới ĐXC khi bệnh nhân có đau cơ và khớp lan tỏa toàn thân mạn tính (trên 3 tháng) mà không hề có tổn thương thực thể cơ, xương, khớp, kèm theo các rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi giảm sút khả năng lao động…

Bệnh nhân ĐXC cần được điều trị bằng các thuốc chống động kinh được khuyến cáo (Gabapentin, Pregabalin) kết hợp với nhóm Amitryptlin, Giãn cơ và Vitamin nhóm B liều cao.

Tài liệu tham khảo

1.Fibromyalgia. National Institute of Arthritis and Musculoskeletal and Skin Diseases. http://www.niams.nih.gov/Health_Info/Fibromyalgia/default.asp. Accessed Nov. 2, 2010.

2.Bennett RM. Fibromyalgia and chronic fatigue syndrome. In: Goldman L, et al. Cecil Medicine. 23rd ed. Philadelphia, Pa.: Saunders Elsevier; 2007. http://www.mdconsult.com/das/book/body/225054422-4/1077621679/1492/1050.html#4-u1.0-B978-1-4160-2805-5..50300-1_13277. Accessed Nov. 2, 2010.

3.Clauw DJ. Fibromyalgia: An overview. American Journal of Medicine. 2009;122:S3.

4.Bennett RM. Clinical manifestations of diagnosis of fibromyalgia. Rheumatic Disease Clinics of North America. 2009;35:215.

5.Goldenberg DL. Clinical manifestations and diagnosis of fibromyalgia in adults. http://www.uptodate.com/home/index.html. Accessed Nov. 4, 2010.

6.Muller D, et al. Fibromyalgia syndrome. In: Rakel D. Integrative Medicine. 2nd ed. Philadelphia, Pa.: Saunders Elsevier; 2007. http://www.mdconsult.com/das/book/body/225324736-4/1078619948/1494/93.html#4-u1.0-B978-1-4160-2954-0..50050-8_2384. Accessed Nov. 4, 2010.

7.Goldenberg DL. Treatment of fibromyalgia in adults. http://www.uptodate.com/home/index.html. Accessed Nov. 4, 2010.

8.Wolfe F, et al. The American College of Rheumatology preliminary diagnostic criteria for fibromyalgia and measurement of symptom severity. Arthritis Care and Research. 2010;62:600.

9.Hassett AL, et al. Nonpharmacologic treatment for fibromyalgia: Patient education, cognitive-behavioral therapy, relaxation techniques and complementary and alternative medicine. Rheumatic Disease Clinics of North America. 2009;35:393.

10. Fibromyalgia and CAM: At a glance. National Center for Complementary and Alternative Medicine. http://nccam.nih.gov/health/pain/fibromyalgia.htm. Accessed Nov. 4, 2010.

11. Carson JW, et al. A pilot randomized controlled trial of the Yoga of Awareness program in the management of fibromyalgia. Pain. 2010;151:530.

12.  Wang C, et al. A randomized trial of tai chi for fibromyalgia. New England Journal of Medicine. 2010;363:743.

13.  Vincent A (expert opinion). Mayo Clinic, Rochester, Minn. Dec. 16, 2010.

Nhóm tác giả: PGS.TS Nguyễn Văn Chương*, ThS Nguyễn Đức Thuận*

ThS Nguyễn Hoàng Thịnh*, ThS Đồng Thị Thu Trang*

ThS Trần Thị Ngọc Trường*



Các câu hỏi về u xơ cơ là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê u xơ cơ là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé

Related Posts

About The Author