Định chế là gì ? Khái niệm định chế được hiểu như thế nào ?

Bài viết Định chế là gì ? Khái niệm định chế được hiểu như thế nào ? thuộc chủ đề về HỎi Đáp thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng https://hangnhatcaocap.com.vn/ tìm hiểu Định chế là gì ? Khái niệm định chế được hiểu như thế nào ? trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem bài viết : “Định chế là gì ? Khái niệm định chế được hiểu như thế nào ?”

Mục lục bài viết

  • 1. Hiểu như thế nào về định chế ?
  • 2. Các loại định chế ?
  • 3. Mối quan hệ giữa định chế và chế định
  • 3.1. Chế định là gì?
  • 3.2. Đặc điểm chế định pháp luật
  • 3.3. Mối quan hệ giữa định chế và chế định. Phân biệt định chế và chế định?
  • 4. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (hình thức biểu hiện bên ngoài của hệ thống pháp luật)

1. Hiểu như thế nào về định chế ?

Định chế là các tổ chức được thành lập và hoạt động trong một lĩnh vực nhất định của nền kinh tế.

Các định chế thường là các pháp nhân dân sự, kinh tế – thương mại, được hình thành và hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế do nhu câu đòi hỏi của nền kinh tế. Trong thực tiễn hiện nay người ta thường dùng thuật ngữ này để chỉ các tổ chức tài chính (định chế tài chính) như các công tỉ bảo hiểm, công ti tài chính, tổ chức tín dụng…

Định chế là tổng hoà giữa hệ thống tổ chức thiết chế xã hội với hệ thống các chế định điều tiết cá nhân và cộng đồng theo những dạng thức quan hệ tương ứng. Trong một định chế sẽ có hai yếu tố hợp thành là tổ chức thiết chế xã hội và chế định.

– Tổ chức thiết chế xã hội là các tổ chức, cơ quan được xây dựng, thành lập, hoạt động trong xã hội theo quy định của pháp luật.

– Chế định là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động của các chủ thể trong định chế.

Như vậy, cần phân biệt tổ chức và chế định với định chế. Vì bản chất tổ chức và chế định là hai yếu tố cấu thành nên định chế. Nếu chỉ có hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh về một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống (hay chế định) mà không có sự xuất hiện của tổ chức hoạt động về lĩnh vực đó (hay tổ chức thiết chế xã hội) thì không thể hình thành nên một định chế trong xã hội. Và ngược lại, nếu có sự xuất hiện của tổ chức mà không có chế định điều chỉnh về hoạt động của tổ chức đó thì cũng không thể hình thành nên một định chế.

2. Các loại định chế ?

Trong một xã hội, không chỉ tồn tại một định chế mà còn có rất nhiều loại định chế song song khác cùng tồn tại và có các giá trị khác nhau, bao gồm:

– Định chế chính trị là tổng hoà các phương thức quan hệ và các thiết chế xã hội – chính trị tương ứng, như các chính đảng, các tổ chức nhà nước và bộ máy nhà nước, các đoàn thể chính trị của quần chúng nhân dân… cùng với hệ thống các chế định tương ứng

– Định chế xã hội cộng đồng cư dân là hình thức tập hợp dân cư theo lãnh thổ cư trú, theo dòng họ và gia đình, như thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố; chi tộc, đại gia tộc… cùng với hệ thống các chế định xã hội tương ứng.

– Định chế xã hội phi chính phủ bao gồm tất cả các tổ chức không thuộc bộ máy hành chính nhà nước và không nhằm mục đích lợi nhuận, không theo đuổi mục tiêu chính trị, được lập ra một cách tự nguyện, hợp pháp và có tư cách pháp nhân theo luật định cùng với hệ thống các chế định xã hội tương ứng. Có ba dạng chủ yếu của định chế xã hội phi chính phủ: tổ chức phi chính phủ mang tính chất quốc gia; tổ chức phi chính phủ mang tính chất quốc tế; và tổ chức phi chính phủ mang tính chất chính phủ.

– Định chế xã hội tôn giáo, tín ngưỡng bao gồm những tổ chức và thành viên được hình thành và hoạt động theo những chế định xã hội đặc biệt, phản ánh bản chất, chức năng xã hội của tôn giáo, tín ngưỡng.

– Định chế kinh tế bao gồm toàn bộ các tổ chức kinh tế được hình thành trong đời sống xã hội cùng với hệ thống các chế định xã hội tương ứng.

3. Mối quan hệ giữa định chế và chế định

3.1. Chế định là gì?

Chế định pháp luật hay còn gọi là định chế pháp luật hoặc chế định là tập hợp một nhóm quy phạm pháp luật có đặc điểm giống nhau để điều chỉnh về nhóm quan hệ xã hội tương ứng trong phạm vi một ngành luật hoặc nhiều ngành luật. Chế định có thể được hiểu theo nghĩa rộng hoặc có thể nghĩa hẹp. Nghĩa chung và rộng là những yếu tố cấu thành cơ cấu pháp lý của thực tại xã hội và nghĩa hẹp là tổng thể các quy phạm, quy tắc của một vấn đề pháp lý.

Chế định pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội gần gũi, có cùng tính chất trong phạm vi mỗi ngành luật vốn bao gồm nhiều chế định.

Ví dụ: ngành luật dân sự có các chế định pháp luật như chế định quyền sở hữu, chế định thừa kế, chế định quyền tác giả, chế định hợp đồng,… Ngành luật hình sự có những chế định như các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người; các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân…

3.2. Đặc điểm chế định pháp luật

Cơ cấu bên trong của pháp luật có những đặc điểm ở tính đa dạng của các chế định. Trong đó có chế định pháp luật liên ngành, nghĩa là có quan hệ đến một vài ngành luật. Các chế định pháp luật liên ngành được hình thành, cũng như hoạt động không giống nhau. Hiến pháp là cơ sở pháp lý của tất cả những chế định pháp luật. Việc xác định đúng tính chất chung của mỗi nhóm quan hệ xã hội từ đó đề ra các quy phạm tương ứng có ý nghĩa quan trọng. Đây là cơ sở pháp lý để tạo ra cơ cấp pháp lý của một ngành luật. Không thể xây dựng được một văn bản pháp luật tốt cũng như một ngành luật hoàn chỉnh nếu không xác định rõ giới hạn và nội dung của các chế định pháp luật. Nhiều chế định hợp lại sẽ cấu thành ngành luật và các ngành luật hợp lại sẽ tạo thành một hệ thống pháp luật.

Chế định pháp luật mang tính chất nhóm và mỗi chế định có một đặc điểm riêng nhưng chúng đều có mối liên hệ nội tại, thống nhất với nhau, chúng không tồn tại một cách biệt lập. Việc xác định ranh giới giữa các chế định nhằm mục đích tạo ra khả năng để xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội. Và phải đặt ra các chế định trong mối liên hệ qua lại trong một chỉnh thể thống nhất của pháp luật cũng như một ngành luật. Mỗi chế định pháp luật dùng mang đặc điểm riêng những nó cũng cần tuân theo các quy luật vật động khách quan, chịu sự ảnh hưởng, tác động của chế định khác trong hệ thống pháp luật.

3.3. Mối quan hệ giữa định chế và chế định. Phân biệt định chế và chế định?

Như nội dung đã phân tích ở trên, định chế là tổng hoà giữa hệ thống tổ chức thiết chế xã hội với hệ thống các chế định điều tiết cá nhân và cộng đồng theo những dạng thức quan hệ tương ứng. Trong một định chế sẽ có hai yếu tố hợp thành là tổ chức thiết chế xã hội và chế định.

Chế định pháp luật hay định chế pháp luật hoặc chế định là tập hợp một nhóm quy phạm pháp luật có đặc điểm giống nhau để điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội tương ứng trong phạm vi một ngành luật hoặc nhiều ngành luật. Chế định có thể được hiểu theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp. Nghĩa chung và rộng là các yếu tố cấu thành cơ cấu pháp lý của thực tại xã hội, nghĩa hẹp là tổng thể các quy phạm, quy tắc của một vấn đề pháp lý.

Như vây, có thể thấy định chế bao quát gồm cả chế định và chế định là một yếu tố cấu thành nên định chế. Đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng lại mang ý nghĩa bổ trợ và có quan hệ chặt chẽ với nhau.

4. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (hình thức biểu hiện bên ngoài của hệ thống pháp luật)

Thứ nhất, khái niệm

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật là hình thức biểu hiện mối liên hệ bên ngoài của pháp luật bằng các loại văn bản quy phạm pháp luật có giá trị cao thấp khác nhau do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo một trình tự và thủ tục do pháp luật quy định, nhưng đều tồn tại trong thể thống nhất.

Thứ hai, đặc điểm

Các văn bản quy phạm pháp luật tạo nên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có các đặc điểm:

– Nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật là các quy phạm pháp luật do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành.

– Các văn bản quy phạm pháp luật có tên gọi khác nhau (luật, pháp lệnh, nghị định,…) do Hiến pháp quy định. Giá trị pháp lý của chúng cao thấp khác nhau do vị trí của cơ quan Nhà nước trong bộ máy nhà nước quy định.

– Các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trong không gian (hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ), hiệu lực theo thời gian (bắt đầu có hiệu lực hay hết hiệu lực) và hiệu lực theo nhóm người (có hiệu lực đối với nhóm người này mà không có hiệu lực đối với nhóm người khác.

Hiến pháp năm 2013, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật gồm các văn bản có giá trị pháp lý như sau:

– Hiến pháp là đạo luật cơ bản có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật.

– Các Đạo luật (Bộ luật) là các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành để cụ thể hóa Hiến pháp. Đạo luật và Bộ luật đều là những văn bản có giá trị pháp lý cao, chỉ đứng sau Hiến pháp.

– Nghị quyết của Quốc hội thường được ban hành để giải quyết các vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Quốc hội nhưng thường mang tính chất cụ thể.

– Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội có giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành.

– Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước: theo Hiến pháp 2013, Chủ tịch nước ban hành lệnh để công bố Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh; ban hành quyết định để giải quyết các công việc thuộc thẩm quyền của mình như quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, quyết định đại xá,…

– Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ, Quyết định, Chỉ thị của thủ tướng Chính phủ.

Các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ có giá trị pháp lý thấp hơn Pháp lệnh và Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

– Quyết định, Chỉ thị, Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ có giá trị pháp lý thấp hơn các văn bản của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

– Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Quyết định, chỉ thị, thông tư của Viện trưởng VKSND tối cao;

– Nghị quyết, thông tư liên tịch giữa các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền với tổ chức chính trị – xã hội.

– Nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp.

Nghị quyết của Hội đồng nhân dân phải phù hợp và không được trái hoặc mâu thuẫn với văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Nhà nước Trung ương, với nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp trên và Ủy ban nhân dân cấp trên.

– Quyết định, chỉ thị của UBND và Chủ tịch UBND các cấp.

Quyết định, chỉ thị của UBND và Chủ tịch UBND cấp nào thì có giá trị pháp lý trong địa hạt của cấp đó.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)



Các câu hỏi về định chế là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê định chế là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết định chế là gì ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết định chế là gì Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết định chế là gì rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về định chế là gì


Các hình ảnh về định chế là gì đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Xem thêm tin tức về định chế là gì tại WikiPedia

Bạn nên tham khảo nội dung chi tiết về định chế là gì từ web Wikipedia tiếng Việt.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

💝 Nguồn Tin tại: https://hangnhatcaocap.com.vn/

💝 Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://hangnhatcaocap.com.vn/wiki-hoi-dap/

Related Posts

About The Author