Mục Đích Của Việc Dạy Giáo Lý – Tháng 01 năm 2010

Bài viết Mục Đích Của Việc Dạy Giáo Lý – Tháng 01 năm 2010 thuộc chủ đề về Giải Đáp thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng Hàng Nhật Cao Cấp tìm hiểu Mục Đích Của Việc Dạy Giáo Lý – Tháng 01 năm 2010 trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem nội dung : “Mục Đích Của Việc Dạy Giáo Lý – Tháng 01 năm 2010”

Thông tin chi tiết về Mục Đích Của Việc Dạy Giáo Lý – Tháng 01 năm 2010



LỜI CHỦ CHĂN

TÒA GIÁM MỤC VĨNH LONG103 đường 3/2 VĩnhLong

Vĩnh Long, ngày 1.1.2010

V/v Mục đích của việc Dạy Giáo Lý

Kính gởi : Quí Cha, Quí Tu Sĩ Nam Nữ,Anh Chị Em Giáo Dân Giáo phận Vĩnh Long

1. Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam đã khai mạc Năm Thánh đặc biệt ngày 24.11.2009, để đánh dấu 350 năm thiết lập hai Giáo phận Tông tòa Đàng Trong và Đàng Ngoài (1659), và 50 năm thiết lập Hàng Giáo Phẩm tại Việt Nam với 3 Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội, Huế và Sài Gòn (1960). Cử hành Năm Thánh để Tạ Ơn về những hồng ân mà Thiên Chúa nhân lành đã ban cho cho chúng ta, và cũng nhằm tiếp tục Xây Dựng và Phát Triển Hội Thánh. Một chương trình học hỏi đuợc đề ra cho mọi thành phần dân Chúa: Giáo Hội Mầu Nhiệm – Hiệp Thông – Sứ Vụ.

Giáo Hội của Chúa Kitô là Cộng Đoàn Mầu Nhiệm, hiệp thông, có sứù mạng, chúng ta phải hiểu như thế nào ?

2.Từ bản chất đến sứ mạng của Hội Thánh, tất cả đến từ Chúa Giêsu Kitô, nguồn gốc của Kitô giáo.

Con Một Thiên Chúa mặc xác phàm để làm cho chúng ta có thể trở nên con Thiên Chúa. Nếu chính Người không xuống với chúng ta trong việc tự hạ như thế, thì do công trạng của ta, không bao giờ ta đến được với Người. Ngày Đức Kitô sinh ra cũng chính là nguồn gốc của dân Kitô giáo. Sinh nhật của Đầu cũng chính là sinh nhật của Thân Thể .

Sinh nhật của Chúa là sinh nhật của hòa bình. Thánh Tông đồ nói: Chính Người là hòa bình của chúng ta vì Người đã làm cho cả hai nên một, dầu là Do Thái hay dân ngoại, tất cả chúng ta đều nhờ Người tới được Chúa Cha trong một Thánh Thần (Lêô I giáo hoàng ,Sermo 6 in Nativitate Domini, PL 54,213-216).

Ngôi Lời mặc xác phàm, sinh bởi Đức Maria, đó là một huyền nhiệm trong kế hoạch của Thiên Chúa Cha từ ái. Người đã nhận lấy dòng giống Abraham nhưng không phải cho riêng dân Do Thái. Người đã gọi đến với Người trong hang đá trước tiên là những mục tử vùng Bêlem, rồi đến Những Đạo Sĩ từ Phương Đông , đó là huyền nhiệm của ơn gọi các dân tộc vào trong vương quốc của Chúa :

“Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Chúa’ (Đáp ca Lễ Hiển Linh)Triều đại Người, đua nở hoa công lýVà thái bình thịnh trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn.Người làm bá chủ từ biển nầy qua biển nọ,Từ sông cả đến tận cùng cõi đất.Từ Tarsis và hải đảo xa xâm,Hàng vương giả sẽ về triều cống” (TV 72).

Chúa Giêsu là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (Gioan 14,6), đã truyền cho các Tông đồ: ‘Các con hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân, thanh tẩy họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy họ giữ hết mọi điều Ta đã truyền cho các con’ (Mt 28,19-20).

3. Thế nên, dạy Giáo lý là một bổn phận phát xuất từ lệnh truyền của Chúa cho các Tông đồ cũng như cho mọi tín hữu. Thánh Phaolô coi đó như một nhu cầu ‘nếu tôi rao giảng Phúc Aâm, thì đó không phải là là lý do để vinh vang, vì đó là sự khẩn thiết giáng xuống trên tôi. Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng’ (1Cor 9,16).

Tại sao rao giảng là điều cần thiết ? Bởi vì TIN là đường cứu rỗi duy nhất, ‘vì Bất cứ ai kêu cầu Danh Chúa, sẽ được cứu rỗi. Thế nhưng làm sao họ kêu cầu Đấng mà họ không tin? Hoặc làm sao họ tin vào Đấng mà họ chưa được nghe nói? Rồi làm sao họ nghe nói nếu không có ai rao giảng? Làm sao rao giảng nếu không được sai đi ? ‘ ( Roma 10,13-15)

Rao giảng hay dạy giáo lý là giáo dục đức tin, là làm sao cho con người không những tiếp xúc, nhưng còn thông hiệp mật thiết với Chúa Giêsu Kitô vì chỉ một mình Người có thể đưa ta đến tình yêu của Chúa Cha trong Thánh Thần và làm cho ta tham dự vào đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi chí Thánh (Catechesi tradendae, 5).

4. Cộng Đoàn tín hữu đầu tiên chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ Bẻ Bánh và cầu nguyện không ngừng (Tđcv 2,42). Chúng ta sẽ cố gắng như thế nào trong Năm Thánh chúng ta cử hành, để nhờ chăm lo học hỏi Giáo lý, cũng như lắng nghe Lời Chúa, lãnh nhận các Bí Tích nhất là Bí Tích Mình và Máu Chúa Kitô, mọi người sẽ trung thành với Chúa Kitô, với Hội Thánh, trở thành Dòng giống được tuyển chọn, hàng tư tế vương giả, dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Chúa (1 Pet.2,9).

Tôma Nguyễn Văn Tân+ Giám mục Vĩnh Long

THƯ MỤC VỤ

CHỦ ĐỀ: MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC DẠY GIÁO LÝ

Năm 2009 này, chúng tôi muốn đề nghị mọi thành phần Dân Chúa nhìn lại Sứ vụ Dạy Giáo lý, bởi vì sứ vụ này liên kết mật thiết với toàn bộ đời sống Hội Thánh và là một trong những nhiệm vụ tối thượng của Hội Thánh đến độ ta có thể nói “Hội Thánh ngày mai tùy thuộc vào việc dạy Giáo lý hôm nay”. “Chính nhờ việc Dạy Giáo lý, Hội Thánh không những phát triển về địa dư và số lượng mà nhất là sự tăng trưởng bên trong và đáp ứng ý định cứu độ của Thiên Chúa” (x.DGL). Lịch sử Hội Thánh cho thấy: “Những thời kỳ Hội Thánh được canh tân cũng là những thời điểm nổi bậc về việc Dạy Giáo lý.” (x.GLHT 8).

Từ rất sớm, người ta đã dùng từ ngữ “Dạy Giáo Lý” để gọi toàn thể các nỗ lực trong Hội Thánh nhằm đào tạo các môn đệ, để giúp nhân loại tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, ngõ hầu nhờ đức tin họ được sống nhờ danh Ngài, để giáo dục và dạy dỗ họ trong cuộc sống ấy và nhờ thế, xây dựng Nhiệm Thể Đức Kitô. (x.DGL 1; GLHT 4) “Dạy Giáo Lý là giáo dục đức tin cho trẻ nhỏ, thanh niên và người lớn, gồm đặc biệt là dạy giáo lý Kitô giáo một cách tổ chức và hệ thống, nhằm khai tâm họ vào cuộc sống Kitô hữu sung mãn. (x.DGL 18; GLHT 5) (Trích DỰ THẢO THƯ MỤC VỤ CỦA HĐGMVN số 1).)

DIỄN GIẢI THƯ MỤC VỤ

Chuyện kể về một cậu bé bán báo như sau: Có rất nhiều người đang đợi xe điện tại một trạm kia. Ai cũng hối hả mong cho tới nơi mình muốn đến. Khi xe vừa dừng bánh, người ta chen lấn, đổ xô về phía cửa xe. Trước sự hỗn loạn đó, người ta đã làm ngã một em bé đang đứng bán báo gần cửa xe, những tờ báo trên đôi tay bé nhỏ của em rơi hết xuống đất. Trong những người chen chúc nhau trên xe có một người khá đứng tuổi, ăn mặc rất lịch sự. Mặc dù cũng vội vã, ông đứng lại để nhìn em bé, và ông nhận ra là em bé bán báo bị mù. Ông nói lời xin lỗi và cúi nhặt từng tờ báo lên cho em mà không quan tâm đến việc mình sẽ lỡ mất chuyến xe. Biết ơn cử chỉ tốt của ông, em bé hỏi : “Ông có phải là Chúa Giêsu không?”. 

Ước gì qua những suy nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta, người ta sẽ nhận ra được Chúa Kitô đang sống động trong con người của chúng ta, kể cả những người bị mù với con mắt Đức Tin.

Đức tin chúng ta có là nhờ Chúa ban cho, qua Giáo Hội hướng dẫn, dạy bảo, trao ban, để rồi đến lượt chúng ta cũng phải làm chứng cho anh em niềm tin của mình, để qua đó, mọi người nhận biết, tôn thờ Chúa, mà được hạnh phúc. 

Chủ đề Mục Vụ hôm nay triển khai mục đích của việc dạy Giáo Lý. Trước hết, chúng ta tóm ý nội dung Thư Mục Vụ nêu trên bằng vài ý ngắn gọn như sau:

Thư Mục Vụ muốn giữ lại đề tài (2009) về huấn giáo (về phương diện dạy giáo lý).

Dạy giáo lý có thể hiểu là tổ chức cho mọi giới, có hệ thống, nghĩa là riêng cho từng nhóm, có phần giáo lý riêng biệt.

Mục đích của việc dạy giáo lý: Có dạy giáo lý mới làm cho Hội Thánh phát triển, tăng số giáo hữu, làm vững tinh thần con cái Chúa.

Thành lập nhiệm thể của Chúa ngày nay là triển vọng cho Hội Thánh ngày mai.

Kết luận: Dạy giáo lý là trách nhiệm quan trọng, và khẩn thiết của Hội Thánh.

Thiên Chúa, vì yêu thương, đã dựng nên con người để cho con người được thông phần vào sự sống vĩnh phúc của Người. Qua Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết và sống lại để chuộc tội và cứu độ, Thiên Chúa đã đến ở giữa con người, quy tụ mọi người vào gia đình Hội Thánh, hướng dẫn, dạy dỗ, để họ hiểu biết, yêu mến và kết hợp với Chúa, ngõ hầu được hưởng hạnh phúc với Người.

Chương trình cứu độ ấy được tiếp nối qua các Tông đồ, với nhiệm vụ được Chúa Kitô trao ban là loan báo Tin Mừng: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần,20 dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28,19-20).

Các Tông đồ đã tiếp bước Chúa Giêsu, ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cộng tác với các ông và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng (Mc 16,20).

Các Kitô hữu, nhờ niềm tin và tình yêu Chúa thúc đẩy, đến lượt mình, cũng ra đi loan báo Tin Mừng mà họ đã nhận được từ các Tông đồ, bằng lời rao giảng, bằng đời sống đức tin, bằng việc tham dự vào đời sống phụng vụ và kinh nguyện (CV 2,42).

Việc giảng dạy Lời Chúa thời các Tông đồ là một trong bốn nhiệm vụ chính yếu của Hội Thánh sơ khai: “Họ chuyên cần lắng nghe lời dạy của các Tông đồ, trung thành với niềm hiệp thông huynh đệ, bẻ bánh và cầu nguyện” (Lc 2,42). Việc rao giảng tiên khởi nầy được gọi là Kérygma bởi tiếng Kéryg là thằng mõ, sứ thần, nói chung là người loan báo một điều gì. Đây là lời loan báo Tin Mừng của Giáo Hội tiên khởi, của các Tông đồ, chủ yếu cho những kẻ chưa tin, những kẻ mới được gặp gỡ Tin Mừng lần đầu tiên. Nội dung của Kérygma là lời công bố Đức Giêsu đã chết và phục sinh (Cha Giuse Nguyễn Thế Thuấn).

Và toàn bộ Giáo Lý của Các Tông đồ được lưu lại trong văn kiện gọi là Didachè, từ Hy Lạp có nghĩa là Giáo lý. (Văn kiện xưa nhất của Giáo Hội nguyên thủy, được khám phá năm 1875. Sách dùng để dạy dự tòng, có nguồn gốc tại Syria, vào thế kỷ thứ I). Sách Didachè còn goi là Giáo lý của 12 Tông đồ, một tổng hợp các giáo lý về luân lý và về những quy định của Hội Thánh (Dictionnarie Critique de Théologie, p. 77).

Để giúp phân biệt việc Dạy Giáo Lý với toàn bộ các hoạt động Truyềøn giáo của Hội Thánh, Tông huấn Loan Báo Tin Mừng đã đưa ra các giai đoạn rao giảng Lời Chúa như sau:

Tiền Phúc Âm hóa (Pré-Evangélisation) : giai đoạn khơi gợi niềm tin trong lòng con người.

Loan báo Tin Mừng : Truyền giảng Tin mừng cho người chưa tin Đức Kitô (Kérygme, Evangélisation)

Dạy giáo lý : Giúp người ta khám phá và đón nhận đức tin Kitô giáo (catéchumène) và giúp các tín hữu đào sâu và sống trưởng thành trong đức tin (Catéchèse)

Diễn giảng Lời Chúa (Homélie): Bài giảng trong Phụng Vụ.

Giảng dạy Thần học (Didascalie, Théologie) : Dạy giáo lý ở mức đại học, vừa sử dụng Kinh Thánh, vừa dùng lý luận để trình bày Lời Chúa.

Hội Thánh ngay từ buổi ban đầu đã dùng từ ngữ “Dạy Giáo Lý” để gọi toàn thể các nỗ lực trong Hội Thánh nhằm đào tạo các môn đệ, để giúp nhân loại tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, ngõ hầu nhờ đức tin họ được sống nhờ danh Ngài, để giáo dục và dạy dỗ họ trong cuộc sống ấy và nhờ thế, xây dựng Nhiệm Thể Đức Kitô” (Tông Huấn Catechesi Tradendae (CT), Về Việc Dạy Giáo Lý của ĐTC Gioan-Phaolô II, số 1).

Như vậy, mục đích của giáo lý là giáo dục đức tin. Đức Gioan Phaolô II đã khẳng định như sau : “Mục đích đặc biệt của việc dạy giáo lý, trong toàn thể công cuộc loan báo Tin Mừng là, với sự trợ giúp của ơn Chúa, làm phát triển đức tin còn thơ ấu, thăng tiến tới mức độ trưởng thành viên mãn và nuôi dưỡng hằng ngày đời sống kitô của các tín hữu. Nghĩa là giúp người tín hữu tin và tiếp nhận con người Đức Kitô làm Chúa duy nhất và sau khi đã gắn bó hoàn toàn với Người bằng sự chân thành hoán cải tâm hồn, người tín hữu cố gắng tìm hiểu Chúa Kitô cùng với các mầu nhiệm của Người, Vương quốc của Người, các đòi hỏi chứa đựng trong Tin Mừng và các nẻo đường mà Người đã vạch ra cho ai muốn theo Người” (CT, 20).

Đặc tính của việc Dạy Giáo Lý nhằm giúp những người đã tin Chúa có được một xác tín sâu sắc và có hệ thống hơn về Thiên Chúa mà mình yêu mến, tôn thờ: “Đặc tính riêng của việc dạy Giáo Lý, khác với việc rao giảng lần đầu để đem đến việc hoán cải trở về, có hai nhiệm vụ là làm cho Đức Tin ban đầu được trưởng thành, và giáo dục các môn đệ chân chính của Đức Kitô bằng cách cung cấp cho họ một sự hiểu biết sâu xa và có hệ thống hơn về con người và sứ vụ của Đức Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta” (CT, số 19).

Nội dung của Giáo Lý chính là Lời Chúa, được lưu lại trong Thánh Kinh và Thánh Truyền. Bởi vì cũng một sứ điệp Tin Mừng cứu rỗi đã được nghe hằng trăm lần, và được tiếp nhận với tất cả lòng quý mến, sẽ luôn được đào sâu nhờ suy tư và nghiên cứu có hệ thống trong Giáo Lý (CT26-27). Như vậy, nội dung hay nguồn của việc dạy giáo lý là Lời Chúa, được mạc khải trọn vẹn nơi Đức Giêsu Kitô, được gìn giữ và giải thích bởi Huấn Quyền của Hội Thánh. Do đó, phải dạy và chỉ được dạy những gì Hội Thánh hướng dẫn và chấp nhận.

Vì Đức Tin là khởi điểm của ơn cứu độ và là sự thông phần vào đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi (x. Rm 10,17), do đó, việc dạy Giáo Lý là cần thiết, không những để làm cho Đức Tin của các Ki-tô hữu thêm chín chắn, mà còn để họ làm chứng trên toàn thế giới, sẵn sàng trả lời cho tất cả những ai chất vấn về niềm hy vọng của họ (CT 25 ).

Đời sống đức tin của người tín hữu được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và Mình Chúa. Do đó, việc dạy Giáo Lý phải gắn liền với tất cả các hoạt động Phụng Vụ và các Bí Tích, sửa soạn cho việc lãnh nhận các Bí Tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể (CT 23).

Mục đích của việc Dạy Giáo Lý là nhằm giúp cộng đoàn tín hữu trưởng thành trong Đức Tin. Mà Đức Tin đã được Thánh Âu-tinh định nghĩa: “Nếu mạc khải là con đường Thiên Chúa đến với con người, mời gọi con người sống trong chân lý và tình yêu ; thì đức tin là con đường con người đến với Thiên Chúa, là sự đáp trả của con người trước tiếng nói của Thiên Chúa. Như vậy, Dạy Giáo Lý là dẫn người học đến gặp gỡ, tiếp xúc cá nhân, thân tình và trực tiếp với Chúa Giêsu, nhờ đó Chúa sẽ biến đổi họ nên giống Chúa hơn. Bởi vì không ai đã từng thật sự gặp gỡ Chúa mà không được Chúa biến đổi.

Tóm lại, tâm điểm của mọi công việcï Dạy Giáo Lý là CHÚA KITÔ. Từ đó chúng ta có thể định hướng cho phương pháp huấn giáo của mình: Ai dạy? Dạy về ai? Dạy cách nào?

Chính Chúa Kitô, Đấng được trao toàn quyền trên trời dưới đất đã sai các Tông đồ ra đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Người (x. Mt28,18-20), đích thực là Thầy Duy Nhất loan báo Tin Mừng. Còn tất cả các Giáo Lý Viên (mọi tín hữu) chỉ là người truyền đạt lại những gì Chúa muốn nói và chỉ những điều ấy mà thôi.

Dạy Giáo Lý là truyền đạt Tin Mừng cứu độ của Chúa Kitô, hiện thân của Chúa Ba Ngôi, đến với mọi người và giúp mỗi người gặp được Ba Ngôi Thiên Chúa, qua Đức Giêsu Kitô.

Phương pháp sư phạm trước hết và trên hết là học theo cách thế mà Chúa Giêsu đã thực hiện: Người thấu hiểu, chia sẻ và hoà đồng với mọi người, để dạy dỗ, lôi kéo những người tội lỗi về với Chúa. Phương pháp Yêu Thương. “Tất cả mục đích của Giáo lý và lời giảng dạy phải được đặt trong tình yêu vĩnh cửu. Dù có thể trình bày khéo léo điều phải tin, cậy, hay làm, nhưng điều chính yếu là phải làm nổi bật lòng yêu mến Chúa, để mọi người hiểu rằng mọi hành vi tốt theo đúng nghĩa Kitô giáo không có nguồn gốc nào khác ngoài Tình Yêu và không có cùng đích nào khác ngoài Tình Yêu” (GLCG, số 25).

Và mỗi người, sau khi đã trưởng thành trong đức tin, cũng sẽ trở nên những chứng nhân tình yêu Thiên Chúa trước mặt mọi người. “Nếu việc dạy Giáo Lý được thực thi tốt đẹp, các Kitô hữu sẽ hăng say làm chứng cho Đức Tin của họ, truyền thụ Đức Tin ấy cho trẻ em, làm cho người khác biết đến nó, và phục vụ cộng đồng nhân loại bằng mọi cách” (CT, số 24).

Sau khi tìm hiểu Giáo Huấn của Hội Thánh về những việc liên quan đến sứ vụ Dạy Giáo Lý, mỗi Kitô hữu chúng ta cần kiểm điểm đời sống của chính mình:

Có biết, có nhớ dạy giáo lý là nhiệm vụ quan trọng của giáo hữu và của Hội Thánh không?

Không dạy giáo lý thì không biết Chúa, đúng ra mình còn được là vật thọ tạo không? (Không biết, không nhận có Đấng Tạo Dựng)

Không dạy giáo lý thì tín hữu không biết nhân phẩm của mình, của người, thì thường sống không đúng nhân phẩm và mối liên kết dễ hỗn loạn.

Có khinh thường, có bỏ quên nhiệm vụ dạy giáo lý không?

Có bao giờ mình nghĩ: Không học, không dạy giáo lý, không những hại mình mà còn hại cho Hội thánh nữa.

LỜI NGUYỆN CHUNG

Kêu mời: Anh chị em thân mến,Hội Thánh và mỗi người trong Hội Thánh đều có sứ mệnh ngôn sứ, tức là có bổn phận phải học và dạy giáo lý. Trong năm thánh Giáo Hội Việt Nam, chúng ta cùng hiệp ý cầu nguyện cho mọi người:

  1. Chúa phán: “Các con hãy đi giảng dạy muôn dân”. Chúng ta cầu nguyện cho mọi thành phần Hội Thánh, biết dùng mọi khả năng mình mà rao giảng Đạo Thánh Chúa cho mọi người đang thành tâm tìm Chúa.
  2. Chúa phán: “Các con hãy đi khắp tứ phương thiên hạ rao giảng Tin Mừng”. Chúng ta cầu nguyện cho mọi Kitô-hữu, biết nhận lãnh ơn Thánh Thần mà làm cho mọi sự vật xunh quang mình thấm nhuần giáo lý Phúc Âm.
  3. Chúa phán: “Các con hãy nên trọn lành như Cha trên trời”. Chúng ta cầu nguyện cho mọi Kitô-hữu biết dùng việc dạy giáo lý, việc rao giảng Tin Mừng, mà làm cho mọi người được thánh hoá, được nên trọn lành như Cha trên trời.
  4. Chúa phán: “Những điều Ta truyền dạy ngươi hôm nay, hãy nói lại cho con cháu”. Chúng ta cầu nguyện cho mọi người trong họ đạo chúng ta, biết mục đích của việc dạy giáo lý là làm cho mọi người đón nhận Thiên Chúa.

Kết thúc: Lạy Chúa, Chúa đã ban trí khôn cho chúng con, Chúa cũng ban Thánh Thần và Ngôi Lời Chúa dạy chúng con nhận biết Chúa. Xin cho chúng con biết vận dụng những ơn Chúa ban mà tiến tới hạnh phúc Nước Trời. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

ÁP DỤNG THỰC HÀNH

HỌC BIẾT YÊU MẾN CHÚA

Khi dựng nên con người, Thiên Chúa cho con người được chia sẻ sự sống của Chúa, sự sống con người là sự sống của Chúa. Thánh Augustinô thật chí lý khi nói: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, và tâm hồn con khắc khoải âu lo cho tới khi được yên nghỉ trong Chúa”. Nhưng tội lỗi đã vào trần gian đưa con người tới chỗ chối bỏ sự sống Thiên Chúa, con người đi vào ngõ cụt, con người mất đi nguồn sống.

Tình yêu Thiên Chúa vượt trên tất cả, Người dùng đủ mọi cách, mọi phương tiện để bày tỏ tình thương cũng như mời gọi con người hoán cải. Trải qua dòng lịch sử dân tộc Israel, ta có thể rõ ràng nhìn thấy tình thương ấy. Đặc biệt, tình thương Thiên Chúa được mặc khải một cách hoàn hảo nơi Đức Giêsu Kitô, người Con chí ái của Người. Với thời gian ngắn ngủi tại thế, Người rao giảng Tin Mừng, mặc khải cho con người thấy khuôn mặt khả ái của Chúa Cha…và chỉ cho con người con đường sống là trở về với Thiên Chúa là nguồn cội của mình. Trước khi về trời, Người dạy bảo các môn đệ “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28, 19). Các môn đệ đã trung thành rao giảng tin mừng Thiên Chúa và làm chứng bằng chính cái chết của mình. Thiết tưởng, nếu các môn đệ chỉ để tin mừng của Thiên Chúa cho riêng mình thôi thì Giáo hội có phát triển, tin mừng của Thiên Chúa có lan rộng. Đành rằng, Chúa có nhiều phương cách nhưng một cách nào đó những người đón nhận sứ mạng rao giảng lời Chúa góp một phần lớn là cho Lời Chúa lớn mạnh.

Với những người có tâm huyết, khi nhìn về cách sống đạo của nhiều tín hữu tại Đồng bằng sông Cửu Long thì sẽ không khỏi chạnh lòng. Nhiều gia đình giữ đạo cho có danh, có sổ sách, đạo đất, đạo ruộng…nhiều người giữ đạo nhưng cố bám víu một cái gì thiêng liêng cho tâm hồn an ổn, vì thế, hiện tượng giáo dân đi xưng tội một năm một lần, tham dự thánh lễ theo kiểu “đạo dzòng” (vòng vòng nhà thờ chiếu lệ)… là chuyện hằng xảy ra. Hình ảnh ấy ai cũng cho là xấu, là không đẹp nhưng khi đi vào thực hành trong đời sống đạo thì cũng đâu lại vào đấy. Tại sao? Tại sao muốn mà không thực hiện được, tại sao người tín hữu chưa có lòng yêu mến Chúa? Thưa, vì họ chưa thấy được Chúa yêu thương, mà chỉ thấy giữ đạo như là phải giữ một mớ giáo thuyết cho đừng bị phạt, đừng sa hoả ngục. Chúa như vị thần cần lời ca tụng của con người và buộc con người phải thờ lạy Chúa. Không, hoàn toàn không phải như vậy. Chúa yêu thương, và muốn yêu thương con người hết mực, ai chạy đến với Chúa với tâm hồn đơn sơ, ngay thật thì đón nhận tình yêu và bình an của Chúa. Làm sao để nhận ra Chúa? Phải học giáo lý.

“Vô tri bất mộ”, không biết thì không thể yêu mến, cách sống đạo của người tín hữu cần phải được đổi mới qua việc học giáo lý, vì qua giáo lý Lời Chúa được trình bày một cách đơn giản, cụ thể, hợp thời và sống động, qua giáo lý ta biết ta từ đâu đến và đi về đâu, làm thế nào để ta có hạnh phúc thật…. Mặt khác, con người được dựng nên có ý chí và có tự do, nên việc học giáo lý không chỉ là học một mớ lý thuyết suôn mà là học để biết Chúa, nhận ra Chúa yêu thương và đáp lại tình thương của Người bằng một đời sống cụ thể. Qua việc học giáo lý, người tín hữu xác tín được rằng: Lời Chúa không phải chỉ để nghe, để hiểu, để cảm nhận mà còn phải là để sống, sống đức tin sống động. Đức tin sống động ấy được thể hiện ra bên ngoại bằng những hành động cụ thể xuất phát từ tình yêu thương và lòng mến của con người hướng về Thiên Chúa tình yêu. Như thế, việc học giáo lý là một việc hết sức quan trọng trong cả cuộc đời người tín hữu, không phải chỉ lúc bé thơ mà suốt cả đời phải học hỏi giáo lý để biết sống với Chúa.

Đành rằng việc dạy và học giáo lý đòi hỏi phải cố gắng, phải hy sinh, nhưng sự hy sinh ấy được đáp lại bằng một đời sống tự do thật sự trong bình an của Thiên Chúa, Chúa yêu tôi và tôi đáp lại tình yêu của Ngài bằng khả năng cũng như hoàn cảnh Ngài ban cho tôi và như thế một cách nào đó ta có thể nói thiên đàng đang hiện diện tại trần thế này. Những câu hỏi mang ý nghĩ tính toán như: tham dự thánh lễ bao nhiêu là đủ, rước lễ rồi về có đủ lễ chưa,… sẽ không còn nữa mà ta sẽ hỏi chình mình: tôi đã yêu mến Chúa hết khả năng tôi chưa, tôi có gắn bó với Chúa là nguồn sống đời tôi chưa…

Xin Chúa giúp sức cho mọi tín hữu biết đặt tầm quan trọng của việc học giáo lý để mỗi ngày thêm lòng tin tưởng nơi Chúa, có một đời sống tự do thật sự trong việc tôn thờ Thiên Chúa. Nhờ cách sống đạo thánh thiện của người tín hữu mà anh chị em lương dân nhận biết Thiên Chúa thật là một Thiên Chúa Hiền Lành.

HỌC KINH THÁNH

BÀI 48: NGÔN SỨ HAGGAI

1/ Thời hoạt động của ngôn sứ.

Ông hoạt động sau thời lưu đày khi những người Do thái đầu tiên, từ Babylon trở về tái thiết Đền thờ, đã chóng nản lòng. Ông và ngôn sứ Giacaria đã khơi dậy các năng lực và thúc đẩy vị Tổng trấn Giơrubaven và Thượng tế Giôsuê tiếp tục công việc tái thiết Đền thờ. Điều nầy đã xảy ra trong tháng 9 năm -520.

Với Haggai, khởi sự thời kỳ ngôn sứ sau cùng, thời kỳ hậu lưu ?ày. Trước lưu đày khẩu hiệu của các ngôn sứ là Trừng phạt. Trong lưu đày khái niệm ấy đã trở thành An ủi. Và sau lưu đày khẩu hiệu ấy là Phục hưng.

2/ Nội dung của sách.

Công việc tái thiết Đền thờ là đối tượng của 4 diễn từ nhỏ làm thành sách Haggai. Vì Đền thờ còn trong cảnh hoang tàn, Thiên Chúa Giavê đã đánh phạt các sản vật của đất đai, nhưng sự tái thiết Đền thờ sẽ đem lại một kỷ nguyên thịnh vượng.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, mỗi khi con tưởng mình tốt lành thánh thiện, chính là lúc con ở trong nguy cơ phạm tội. Trái lại, khi con mang trong lòng sự khiêm nhường, nhận biết mình tội lỗi bất xứng, chính là lúc con đang lãnh nhận ơn Chúa, đang cảm nếm sự ngọt ngào của tình Chúa xót thương. Amen.

SỐNG ĐẠO

CÚNG TẾ

Đối với quan quyền, thì cao lễ dễ thưa; còn đối với thần phật, nếu mình dâng tiến lễ vật thì gọi là cúng. Còn dâng lễ vật cho Đấng cao cả hơn nữa thì có thể tôn xưng là cúng tế.

Có thể dùng bất cứ vật gì để làm của lễ cúng tế, ví dụ: nước tự nhiên (có ý nghĩa: của trời dâng lại cho trời); hoa quả: cái đẹp, cái lộc trời ban dâng lên để cảm tạ trời đất; vật thực: dành riêng cho nhân thân, cho người đã chết, ở giới bên kia, mà mình tưởng tượng như giới này vẫn còn cầu ăn uống. Hạng người còn sống hiện tại ăn uống thì kể được là tham gia vào chính việc cúng kiến.

Hiểu như thế, bây giờ chúng ta đặt vấn đề: giới công giáo có cúng tế không? Không có đạo nào mà không cúng tế. Công giáo cũng thế, cũng có đạo, mà đã là đạo thì dĩ nhiên phải có cúng tế.

Từ xưa, thời Cựu Ước, trong cung thánh vẫn có bàn để dâng Bánh Trưng Hiến. Thời Tân Ước, dâng Chúa Hài Nhi vào Đền Thánh (của Chúa dâng lại cho Chúa). Ba Vua (hay ba nhà chiêm tinh), dưới ánh sao soi sáng đã mang lễ vật, nói được là để cúng tế cho Chúa Hài Nhi gồm vàng, mộc dược và nhũû hương, có nghĩa là tâm hồn các ngài tin nhận Chúa Hài Nhi, là Thiên Chúa Nhập Thể (Chúa làm người). Dâng mộc dược để ướp xác; Dâng vàng chỉ tỏ Chúa có quyền trên cả đất trời. Dâng nhũ hương là dấu chỉ Chúa là Chủ tể tuyệt đối.

Hiến dâng như thế thì quả quyết được là cúng tế. Sau cùng trên thánh giá, chính Chúa Kitô là của lễ hiến tế.

Đây là việc cúng tế có giá trị vô cùng, dâng cho Chúa tể tuyệt đối. Không việc nào cao trọng hơn được.

Đạo Công giáo chúng ta có việc cúng tế, thường gọi là Thánh Lễ – Mỗi ngày đều thực hiện để tỏ lòng tùng phục, nhớ ơn, nương tựa, đáp mến, tôn thờ,…thích đáng.

Việc cúng tế siêu tuyệt!

Quyền Hành – Hành Quyền

Nhà tu quyền hành hay hành quyền, đáng ớn hay đáng mộ?

Hội Thánh đã nhìn nhận những sai phạm của mình và đã xin lỗi. Chúng ta thực tế nhận thấy những sai lầm có thể làm cho giáo hữu ớn.

Nhưng trong Hội thánh vẫn có những gương hạnh tốt đẹp… ít ra là làm cho chúng ta biết ơn mà có thể giữ được tâm tình mến mộ.

Câu chuyện về cha Chánh Rền (tục danh anh em linh mục gọi cha vì giọng nói của cha rền). Cha quê ở Cái nhum, con của một đông y nổi danh. Lớn lên, đi tu, cha không học thuốc được, vì linh mục không được bắt mạch (nam nữ thọ thọ bất tương thân), chỉ học để biết rõ tánh dược thôi.

Khi làm linh mục, cha hốt thuốc rất nổi tiếng và đã từng trị hết bệnh cho vợ ông Đơnian, người giàu có ở Nam Kỳ lúc bấy giờ. Bấy giờ ông Đơnian muốn tặng cha một số tiền lớn để tỏ lòng biết ơn. Cha trả lời

Tôi không cần tiền, chủng viện nuôi tôi đủ rồi?

Bộ Cha chê ít sao?

Ít tôi không cần, nhiều cần làm gì? Có điều mai mốt khi tôi cần tiền cất nhà thờ, ông cho bao nhiêu tôi cũng nhận.

Đến khi làm cha phó biệt cư của Cha Gapriel Long, ở Châu Pha, thì cha sở cất nhà thờ Các Thánh Tử Đạo Bà Rịa khoảng 3000 đồng mà thiếu 1000 đồng. Thế là cha Phó Chánh Rền tình nguyện đi xin. Cha tìm gặp ông Đơnian, ông nầy mời ăn cơm, cha không ăn và nói:

Chừng nào ông cho tôi 1000 $ (tiền lúc bấy giờ, rất lớn) tôi mới ăn.

Tôi không sẳn tiền chỉ có “séc” (chèque) thôi! Đơnian đáp.

Miễn ông cho là được.

Đơnian ký cho cha tấm “séc” 1000 $. Sau đó, cha mới ăn cơm. Đến khi lãnh tiền, thì rắc rối xảy ra. Số là cha chẳng có giấy tờ tùy thân gì cả, nên Ngân Hàng không cho cha lãnh.

Tôi không có giấy gì khác, ngoài chiếc áo dòng. Chẳng lẽ chiếc áo dòng không chứng minh cho nhân thân tôi được sao?

Thưa Cha, không được, vì thiếu chứng từ để lập hồ sơ.

Vậy tôi có giấy biên lai súng săn được không?

Ngân hàng đồng ý cho cha lãnh tiền. Giấy biên lai súng cha có được là nhờ hốt thuốc cho một người Việt Nam có chồng Pháp và được khỏi bệnh. Người chồng Pháp tặng cha cây súng săn, kèm theo 200 $, theo ý thích của cha, vì ở vùng núi có nhiều heo rừng quấy phá.

Một thời gian sau ông ta trở lại thăm và hỏi cha mua được súng săn chưa? Cha trả lời:

Tôi thì ham súng săn, nhưng đường đi xấu quá, tôi lấy tiền làm đường cho dân hết rồi!

Thế là ông Tây nầy quyết định tự mình mua cho cha cây súng săn mới khác.

Lúc sinh thời, cha quen một gia đình giàu có ở Bến Gỗ, hay giúp cha nhiều tiền, cha đem bố thí hết. Khi chết chỉ còn 15 $ và còn mắc nợ 200$. Dẫu vậy, chủ nợ cảm kích tuyên bố cho luôn, vì biết rõ cha hay làm phúc cho người nghèo.

Xem ra Cha sở này hành quyền hay quá, cho không lấy…lại đòi thêm, lấy tiền người giàu cho người nghèo. Hạ mình mượn nợ để giúp ích chung, làm linh mục là sống cho người.

BÁO MỤC VỤChúc Xuân Cho Toàn Giáo Phận

Tân nhật, nhật tân, nhật nhật tân. Hựu nhật tân.

Mượn lối hiền triết để nguyện chúc cho nhau theo nghĩ tưởng của con Chúa. Ngày mới, mình làm mình nên mới, mỗi ngày hãy nên mới, ngày ngày càng nên mới.

Chúng ta hiểu ngày tháng hay thời giờ là của Chúa ban cho chúng ta. Mỗi ngày, mỗi giờ, phải sống, phải dùng như thế nào cho mình nên tốt hơn, tốt mãi, không bao giờ ngừng nghỉ.

Trước hết, ngày đầu năm chúng ta phải cáûm ơn Chúa. Ngày cũ hay ngày mới cũng thế, cũng đều do Chúa ban.

Kiểm điểm: Hành vi, xấu thì sám hối; tốt thì vui mừng.

Nỗ lực canh tân đời sống nên tốt, tốt hơn mãi.

Đó là Nhật tân, nghĩa là mình dùng ngày, dùng thời giờ, để kiến tạo mình nên mới, nên tốt, phẩm giá cao, chính là lời nguyện chúc cao siêu hơn cả. Uớc nguyện cho tiến lên, vinh sang, quyền lực, phước lạc… không làm cho phẩm giá tăng tiến.

Còn nhật tăng làm cho bản thể trỗi vượt các vật vô tri; nếu mỗi ngày nên tốt, tuyệt hảo, thì có thể hưởng được thiện hảo vĩnh cửu.

TÌM HIỂU GIÁO LUẬT

GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ BỘ GIÁO LUẬT 1983

A. Giới thiệu.

Ngày 25 tháng 01 năm 1983, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã ban hành Bộ Giáo luật mới thay thế cho Bộ Giáo luật cũ năm 1917. Bộ luật nầy có hiệu lực từ Chúa nhật I Mùa Vọng, ngày 27 tháng 11 năm 1983. Tính đến nay, nó đã được áp dụng trong Giáo hội Công Giáo 26 năm, hơn một phần tư thế kỷ, nhưng không phải hết mọi thành phần Dân Chúa đều nhận biết và thực thi cách nghiêm túc. Nay Tập San “Mục Vụ Giáo Phận Vĩnh Long” thêm trang Giáo luật nhằm để mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo Phận có dịp xem lại những chỉ dẫn của Giáo hội qua Bộ Giáo luật nầy.

  • Khái quát.

Giáo hội là một mầu nhiệm, vừa vô hình, nhưng cũng vừa hữu hình như một cơ chế có phẩm trật. Bên cạnh đó, công pháp quốc tế nhìn nhận Giáo hội Công Giáo như một tổ chức xã hội hoàn bị, nghĩa là một quốc gia. Bấc cứ một quốc gia dù lớn dù nhỏ đều hiển nhiên có những luật lệ của quốc gia đó: “Ubi societas, ibi ius”, nhằm để xây dựng và duy trì trật tự chung (x. St. Thomas Aquinas, I-II, q.90, a.4), cũng là phương tiện để giúp con người đạt được mục đích siêu nhiên là ơn cứu rỗi: “salus animarum” (x.đ.1752).

Dựa trên những nền tảng căn bản đó, Giáo hội cần có những luật lệ riêng của mình, nhằm để trình bày những cơ cấu phẩm trật; nhằm cho việc thừa hành các chức năng mà Thiên Chúa đã trao phó, nhất là các chức vụ thẩm quyền, và việc ban phát các Bí tích được thực hiện một cách xứng hợp; nhằm cho các quan hệ giữa các tín hữu với nhau được quy định theo công bằng đặt trên nền tảng đức Ái, các quyền lợi của các cá nhân được bảo đảm và được xác định rõ ràng; hoặc để những sáng kiến chung hướng tới một sinh hoạt Kitô giáo ngày càng hoàn hảo hơn, được các quy tắc Giáo luật nâng đỡ, củng cố và khuyến khích (x. Gioan Phaolô II, Tông Hiến “Sacrae disciplinae leges”).

Bộ Giáo luật 1983 được phân chia thành bảy quyển với 1752 điều khoản:

Quyển I: Những quy tắc chung, gồm có 203 điều. Đề ra những luật lệ chung cho tất cả những tín hữu Kitô, và nêu rõ chủ thể pháp lý của các quyền lợi và những bổn phận của họ.

Quyển II: Dân Thiên Chúa, gồm có 543 điều. Đây là phần mới mẻ nhất của Bộ Giáo luật, vì nó áp dụng các văn kiện của Công đồng Vat. II trên nền tảng Giáo hội học (Hiến chế về Giáo hội). Nội dung của Quyển nầy bàn về điều kiện nhân sự của Giáo hội, những gì liên quan đến bậc giáo dân, cơ cấu phẩm trật trong Giáo hội, các tu hội đời sống thánh hiến và các hội đời sống tông đồ.

Quyển III: Nhiệm vụ giảng dạy của Giáo hội, gồm có 87 điều. Xét đến hành động mục vụ và những luật lệ của việc loan truyền Lời Chúa; việc dạy giáo lý, phương diện Phúc âm hoá các dân tộc của Giáo hội, những điều kiện của việc truyền bá nền văn hoá Kitô giáo.Quyển IV: Nhiệm vụ thánh hoá của Giáo hội, gồm 420 điều. Nói đến việc ban phát các Bí tích, việc thờ phượng, nơi thánh và thời gian thánh.

Quyển V: Tài sản của Giáo hội, gồm 57 điều. Tất cả những gì liên quan đến việc quản lý tài sản của Giáo hội.

Quyển VI: Chế tài trong Giáo hội, gồm 89 điều. Quy định những tội phạm và những hình phạt trong Giáo hội.

Quyển VII: Tố tụng, gồm 353 điều. Phần nầy được trình bày như “người bảo vệ các quyền lợi” của mọi thành phần trong Giáo hội.

Như thế, ngoài Quyển I là những quy tắt chung, Bộ Giáo luật được trình bày một cách có hệ thống: Giáo hội là đoàn dân được Chúa tập hợp và sai đi (Q.II) để rao giảng Tin Mừng cứu rỗi (Q.III) và chuyển thông ơn thánh hoá qua phụng tự bí tích (Q.IV). Tuy rằng, Giáo hội có một sứ mạng siêu việt nhưng vẫn bao gồm những con người cụ thể và sống trong một thế giới hữu hình có nhiều giới hạn, nên Giáo hội cần có những tài sản để hoạt động (Q.V), cũng như cần có những biện pháp kỷ luật dành cho những ai sai phạm (Q.VI) và những thủ tục để phân xử khi có tranh chấp và sai phạm (Q. VII).

Ngoài ra, chúng ta cũng biết khi ban hành Bộ Giáo luật, nhà lập pháp Tối Cao của Giáo hội chỉ dự trù cho những trường hợp phổ quát, và có giá trị cho

đa số, chứ không thể dự liệu cho hết mọi chi tiết, mọi hoàn cảnh và mọi văn hoá được. Do vậy, trong Bộ Giáo luật hiện hành dành rất nhiều chỗ để Đấng Bản Quyền Địa Phương đề ra những luật chi tiết cho phù hợp với địa phương của mình. Những luật như vậy, chúng ta gọi là luật địa phương (luật của Giáo phận) và nó chỉ có giá trị trong Giáo hội địa phương đó.

  • Những nhà lập luật

Ngoài những luật của Thiên Chúa (Thiên luật) gồm luật tự nhiên và luật thiết định, Giáo hội với quyền lập pháp: Đức Giáo hoàng, Công đồng chung có quyền thiết lập luật chung cho toàn Giáo hội; Giám mục Giáo phận (khi riêng lẽ hoặc khi họp công nghị Giáo phận) có quyền lập luật cho Giáo phận của ngài (x. đ. 391§1, 466); các công đồng Giáo tỉnh hay toàn quốc có thẩm quyền lập luật đối với lãnh thổ liên hệ (x. đ. 445); Các Hội đồng Giám mục chỉ có quyền lập luật trong những trường hợp mà luật quy định (x. đ. 455§1). Cách chung, những quyết nghị của Hội đồng Giám mục chỉ là hành vi hành chánh.

  • Những ai buộc phải giữ luật ( kỳ sau).

TRANG LINH MỤC

THIÊN CHỨC LINH MỤC

Dịp mở tay Cha Phêrô Lê Hoàng Lâm, gốc Cái Mơn, 11.07.2003, Đức Cha Giacôbê Nguyễn Văn Mầu đã giảng về Linh Mục như là Một Tuấn Kiệt Siêu Tuyệt.

Anh em tín hữu Cái Mơn – Vĩnh Thành hãy phấn khởi vui mừng vì hôm nay mọi nơi đều hướng về họ Cái Mơn và khen tặng: Cái Mơn là một địa linh nhân kiệt: Thánh Minh nêu danh trên cả thế giới; nhà họ Trương, địa cầu đã khen tặng là một trong mười tám đại văn hào trong thế kỷ trước.

Lại là một họ đạo cung cấp cho Hội Thánh nhiều linh mục nhất. Từ sơ khởi đến nay, cái Mơn đã hiến cho Hội Thánh trên 60 linh mục, chưa kể những con cháu người Cái Mơn vì sinh nghiệp phải đến nơi khác. Anh em có thừa lý do để phấn khởi vui mừng và hôm nay, họ đạo lại mừng lễ mở tay của một linh mục.

Một linh mục là một nhân kiệt, không hẳn chỉ là sản phẩm Đominicô địa linh hun đúc phát sinh, mà là do chính Chúa rèn luyện để con người linh mục trở nên một tuấn kiệt tuyệt vời cho đời và cho Chúa nữa.

Sao nói linh mục là tuấn kiệt tuyệt vời? Chúng ta nhớ: là do Chúa rèn luyện. Và chúng ta thường ca tụng linh mục thay mặt Chúa, thực hiện quyền của Chúa và có thể xoay được ý định của Chúa (Nguyễn Dương: nhân định thắng thiên).

Chúng ta hãy suy nghĩ những điểm thường hơn: linh mục là tuấn kiệt tuyệt vời vì theo bước chân của Thầy chí thánh: không sống cho chính mình mà sống cho người và sống cho Chúa – không ngoạn mục nhưng hiệu quả rất sâu xa, rất đáng trọng.

  • Không sống cho mình.

Người sống cho mình là người tìm đạt được lợi, danh , thú.

Môn đồ của Quan Thầy sinh nằm nơi Máng cỏ, sống không có hòn đá gối đầu, không có quyền chạy theo tiền của ở đời. Một Quan Thầy người ta muốn tôn vương thì trốn tránh; một lần xem ra được vinh quang, dân chúng rước vào thành Giêrusalem cách trọng thể – chúng ta có ngờ Chúa đã rơi lệ giờ phút đó? Một Vị Tôn sư sống khắc khổ, đói khát…phải xin cho uống nhờ ngụm nước, lại vui nhận mà không bứt lúa vò cho tróc vỏ để nhơi cho đỡ.

Chúa là mẫu gương tuyệt đối, nên đã đào luyện các môn đệ theo con đường tuyệt hảo.

Chúa muốn cho linh mục của Chúa không chạy theo tiền bạc, vui nhận nhưng chỉ cần cho cuộc sống, không chạy theo danh vọng (nhớ lời của Trương Vĩnh Ký nơi giường bệnh nói với cha Bề Trên Cao: Hic transiet gloria mundi) – Sống đời độc thân, nếu có thụ hưởng chút thú vui tạm qua, cũng vì lợi ích cho người.

Như Chúa Giêsu, con người linh mục sống siêu thoát nhảy khỏi tứ đỗ tường, đạt được tình trạng thần tiên. Thiên hạ thời xưa đã ca tụng 7 vị ở rừng trúc là Trúc lâm thất hiền – bậc tiên, bậc Hiền – thì linh mục còn siêu việt hơn vì Thất hiền chỉ sống cho mình, thoát tục để sống vui, còn linh mục thoát tục để sống cho người.

  • Không mấy ai nghĩ đời sống linh mục là đời sống cho người, cho nhân loại – linh mục thoát tục để sống cho nhân loại và chết cho nhân loại.

Một chủng sinh theo ơn gọi vào chủng Viện tu học nhiều năm, vì sau này sẽ thụ lãnh sứ mạng cho nên đời tu phải cho người – tu để đủ điều kiện phục vụ. Học cho người, học cho đủ khả năng dạy dỗ…

Rồi khi là linh mục – chúng ta nhìn qua các tác động của linh mục, thấy rõ đời của linh mục là sống cho giáo hữu. Các tác động dâng lễ, thể hiện bí tích, dạy dỗ, hướng dẫn…là cho giáo hữu. Cả thời giờ cũng cho giáo hữu.

Cho giáo hữu, phục vụ giáo hữu không chỉ là phận sự mà phục vụ với tất cả tình yêu Chúa Kitô…vì loài người xuống thế, cũng vì loài người Chúa đã chịu nạn chịu chết. Linh mục phục vụ không mãi trong phấn khởi vui tươi, trái lại như Chúa Kitô đã đổ mồ hôi máu vì những phản bội, những nhục mạ, đánh đập và đóng đinh trên Thập Giá.

Trong thực tế, đời sống phục vụ, nếu Chúa đòi linh mục phải liều mạng sống, phải chết vì lợi ích cho con chiên, thì linh mục không những không từ khước, nhưng lại phải vui lòng chết như Chúa Kitô (đời Cha Philipphê Truyền: người ta lợi dụng, lường gạt để hạ sát Cha trên con đường đến thăm bệnh liệt..Truyện linh mục già người ta khiêng đi giúp kẻ liệt, trên đường về tắt thở…)

Ơû đời, ai biết sống cho đời, đem nhiều lợi ích cho đời, ví dụ: nhà bác học Pasteur, thì người ta kể là hạng tuấn kiệt, lại xưng tụng là ân nhân của nhân loại. Còn linh mục? Có thể nói hơn những nhà bác học – vì sống cho người không phải chỉ để biểu lộ tài năng mà đã khó nhọc và chết cho phục vụ nữa. Chúa phải đào luyện con người linh mục siêu tuyệt hơn…

  • Siêu tuyệt hơn nữa vì con người linh mục sống cho Chúa. Lối sống cao siêu huyền nhiệm trên tầm hiểu biết của con người.

Sống cho Chúa không phải chỉ là một việc loài thọ tạo hoàn toàn lệ thuộc Chúa tạo dựng – mà là một cuộc hiến thân; nói đúng hơn là một tình yêu hiến thân, tuy hèn kém nhưng cũng để đáp lại tình yêu Hiến Thân vô cùng của Chúa. Hiểu được phần nào tình yêu hiến thân vô cùng của Chúa đó là một hồng ân vô giá. Đáp lại cũng bằng tình yêu hiến thân – cũng là hồng ân vô giá đặc biệt cho đời linh mục.

Sống cho Chúa: tận hiến mình cho Chúa thì không còn tâm ý riêng biệt: Cùng nhìn về một hướng tạo nên cảnh đồng hóa với Chúa vì thế thiên hạ gọi linh mục là Alter Christus. Và không những đồng hóa trong tư tưởng mà cũng nói được đồng hóa trong tác động. Đồng hóa công việc, có thể hiểu: việc Chúa Giêsu làm thì nói được linh mục làm, như dâng lễ, giải tội, ban Bí Tích. Người ta nói linh mục làm lễ, giải tội, ban Bí Tích. Còn tác động của linh mục (nếu linh mục sống hoàn toàn cho Chúa thì nói được là việc của Chúa “Vì Chúa sống trong tôi”.

Linh mục được Chúa đào luyện chính là con người tuấn kiệt – mà là con người siêu nhân, phần nào đó là đã được Thiên Chúa hóa.

Anh em thân mến, nhìn bức ảnh xem ra đơn thường nhưng đúng là huy hoàng, là lý tưởng quý đẹp, anh em nghĩ sao?

Phần Cha mới, Cha phải bỡ ngỡ, ca tụng, cám mến tình Chúa nhìn đến phận hèn của cha – Cha cũng phải khiếp đảm vì lý tưởng quá cao siêu, sức con người không với tới nổi – cha chỉ biết nương tựa vào lòng từ bi Chúa. Để được nương tựa vào lòng từ bi Chúa, thiết tưởng cha cũng nên yêu cầu thân nhân, ân nhân và họ đạo cùng Chúa ta ơn Chúa và tiếp tục cầu cho cha biết dùng ơn Chúa để bớt phần khuyết điểm, biết sống cho đời, cho Chúa, đem lại lợi ích cho nhân loại, để mọi người được nên con Chúa, hưởng được chính sự sống của Chúa và được hưởng phần gia nghiệp Chúa dành để cho con cái Chúa. Amen.

TRANG TU SĨ

Tình Yêu Có Sức Biến Đổi

Sự tồn tại và phát triển của Giáo Hội nói chung và cách riêng nơi các họ đạo vẫn là việc truyền bá Phúc Âm. Và một trong những cách thức truyền bá hữu hiệu là “dạy giáo lý” mà trong đó Đức Kitô phải là trọng tâm của việc giảng dạy.

Ý thức rõ bổn phận của một Kitô hữu phải nói Chúa cho những người chưa biết Chúa, hay nói đúng hơn bổn phận của một Giáo Lý Viên đồng trách nhiệm với quý Cha trong việc dạy giáo lý, duy trì niềm tin và phát triển trong họ đạo. Sau thời gian được học hỏi, đào luyện, trang bị những kiến thức của một môn đệ Chúa chuẩn bị cho việc dạy giáo lý. Con được đặt trách lớp giáo lý Thêm Sức, với tài liệu là “Chương trình thăng tiến thiếu nhi” của Ban Mục Vụ Thiếu Nhi giáo phận Vĩnh Long, mà trong đó nói “những chuyện về cuộc đời Chúa Giêsu”. Được cha phụ trách sinh hoạt trước về cách thức giảng dạy gồm có: Chuyện Kinh Thánh, Chuyện đạo đức và tư cách sống, nên con không ngỡ ngàng lắm với lối dạy mới mẽ này. Con cảm thấy thích thú khi soạn bài theo đề tài chuẩn bị lên tiết dạy, nhưng cũng không kém phần hồi họp vì đây là lần đầu con nói về Chúa cho một nhóm người trẻ với hơn 30 em nữ với lứa tuổi từ 14 đến 16 tuổi, cái tuổi mà tâm sinh lý đang ở giai đoạn thay đổi, cái tuổi dễ nhưng cũng rất khó tiếp nhận những chân lý về Đạo. Con chuẩn bị bài kỹ lưỡng không những về phương pháp, nội dung mà còn cả về cách ứng xử cho những trường hợp tạm cho là khó khăn, những câu hỏi hóc búa.

Nhưng hỡi ôi, lớp học ngày đầu tiên chỉ có 2 em, sang ngày thứ 2 sĩ số được tăng thêm một nữa là 3, và trong suốt tuần lễ đầu chỉ trên dưới 5 em hiện diện trong trong số 38 em, các em vắng mặt với lý do phải đi học thêm, phải phụ giúp việc gia đình… Số các em đến lớp cũng không muốn học, chỉ thích chơi giỡn, hỏi những kiến thức căn bản về Đạo về Chúa thì các em ậm ừ không nắm rõ. Bao nhiêu công sức và nhiệt huyết lúc ban đầu trong con dường như dần dần tan biến. Con trình bày với cha sở về tình trạng này, con không thể tiếp tục giữ lại lớp nhưng phải dồn lớp cho chị giáo lý viên bên cạnh phụ trách. Nhưng cha nói với con “hãy kiên trì thêm thời gian nữa và hãy để Chúa làm việc, Người có cách của Người vì mọi việc Chúa làm đều tốt đẹp”. Vâng lời cha, con không để ý tới số lượng người tham dự nữa, con soạn bài kỹ lưỡng hơn và áp dụng các phương pháp dạy năng động giúp các em vận dụng trí óc suy nghĩ và nói lên nhưng suy nghĩ của mình đối với Thiên Chúa và tình yêu của Người, cho các em chơi những trò chơi và hát những bài hát sinh hoạt giữa giờ, thường xuyên kiểm tra bài và khen thưởng những em học tốt, chăm ngoan giúp các em thêm tinh thần học và thực tập cụ thể các bài đã học trong đời sống…Lớp học từ lần trở nên linh động hơn, và con số các em tương đối đầy đủ chỉ có một vài em theo gia đình đi làm xa không đến dự lớp được, và thêm một vài em lớp khác xin tham dự. Những tháng học kết thúc, các em được cha sở cho thi kiểm tra giáo lý trước khi lãnh nhận Bí Tích Thêm Sức và kết quả không em nào bị rớt hay phải vớt lại, cha khen lớp có tiến bộ nhiều! Điều làm con vui mừng ở đây không chỉ vì các em đi học đông, thi đạt điểm cao… nhưng là các em có sự trưởng thành trong đời sống thiêng liêng: siêng năng tham dự Thánh Lễ hơn, nghiêm trang trong nhà thờ. Và trưởng thành nhân cách: nói chuyện lịch sự lễ phép và biết chào hỏi người lớn…

Đây là những chia sẻ nho nhỏ của con trong kinh nghiệm dạy giáo lý, nhưng từ những kinh nghiệm nhỏ đó đã cho con những bài học ngàn đời là “kiên nhẫn, trông cậy phó thác nơi Chúa và Chúa phải là trung tâm điểm của mọi công việc” . Và điều con tâm niệm cho đời sống riêng mình là “Tình Yêu có sức biến đổi”. Vâng, với Tình yêu Chúa, tính kiên nhẫn và lòng tín thác sẽ cho chúng ta một trái tim quảng đại giống Chúa để làm việc Chúa.

Một Nữ Tu

Tại sao phải học Giáo Lý?

Trong giờ ra chơi của một lớp giáo lý khai tâm, các em học sinh quây quần bên tôi, các em tíu tít hỏi tôi đủ chuyện… Nào là áo thiên thần, nào là cánh thiên thần… Dì cháu tôi vui vẻ, tôi trả lời không kịp những câu hỏi của các em vì mình cũng đang lo ra với ý nghĩ: làm thế nào để cho các em có thể mừng Chúa Giáng Sinh một cách vui vẻ và ý nghĩa… Bỗng một câu hỏi bất ngờ cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi.

Thưa Dì Hai, con học giáo lý chi vậy?

Ah! Bé Ti. Chào con – Tôi trìu mến nhìn cháu và hỏi – Bé Ti có biết cha mẹ con không?

Da, con biết chứ!

Cha mẹ có thương Bé Ti không?

Dạ, thương chứ Dì Hai. Cha mẹ con thương con lắm!

Con có thương cha mẹ con không?

Con thương cha mẹ con nhiều lắm.

Vậy thì Dì Hai hỏi con nè: con có biết Chúa không?

Dạ… Con chỉ nghe Dì Hai nói thôi chứ con chưa biết nhiều.

Đó là lý do tại sao Bé Ti phải học giáo lý. Con học giáo lý để con biết Chúa, để biết Chúa thương con và con thương Chúa như cha mẹ con thương con vậy.

Vậy Dì Hai dạy cho con biết Chúa hen!

Câu hỏi tuy rất đơn sơ nhưng nhắc nhở tôi ý thức trách nhiệm của một nữ tu có nhiệm vụ đem Chúa đến cho người khác, đặc biệt là các cháu lớp khai tâm. Điều này giúp tôi tái khám phá mục đích của việc giảng dạy giáo lý mà Giáo Hội đã đề ra. Nó cũng gợi lại trong tôi ước muốn trở thành một nhà truyền giáo trước khi bắt đầu ơn gọi trong dòng Mến Thánh Giá, là đem nhiều người trở lại với Chúa qua việc dạy giáo lý, đặc biệt là các em thiếu nhi (tư tưởng này đã có từ lúc tôi còn nhỏ).

Trong Tông huấn Catechesi Tradendae (về việc dạy giáo lý trong thời đại chúng ta), ĐTC Gioan Phaolô II đã nói: “Mục đích của việc dạy giáo lý là mở rộng sự hiểu biết về mầu nhiệm Đức Kitô dựa vào Lời Chúa, để tất cả nhân loại được thấm nhuần bởi Lời ấy. Được biến đổi bởi tác động của ân sủng thành một tạo vật mới, như thế Kitô hữu tự mình theo Đức Kitô và học hỏi càng ngày càng nhiều trong Hội Thánh để suy nghĩ như Người, phán đoán như Người, hành động theo mệnh lệnh của Người, và hy vọng như Người mời gọi chúng ta.” (DGL # 20). Như vậy, ý định của Giáo Hội đã quá rõ ràng khi nêu lên tầm quan trọng của việc truyền thụ kiến thức và kinh nghiệm cho mọi thành phần dân Chúa về một Thiên Chúa tình yêu. Và đây cũng là một nhiệm vụ thánh thiêng và liên kết chặt chẽ với đời sống của Giáo Hội. Hơn nữa, đó còn là “khúc đường giáo huấn và trưởng thành” của mọi kitô hữu, nên cần phải có “sự trợ giúp của Thiên Chúa, phát triển Đức Tin ban đầu, cùng thăng tiến đến mức viên mãn, và nuôi dưỡng mỗi ngày đời sống Kitô của các tín hữu, trẻ cũng như già.” (DGL # 20).

Ngoài ra, ĐTC còn nhấn mạnh: “Việc dạy Giáo Lý không thể được tách rời ra khỏi hoạt động mục vụ và truyền giáo của Hội Thánh cách chung.” (DGL # 18). Được lớn lên trong Giáo Hội, và hơn nữa là một nữ tu Mến Thánh Giá, hấp thụ tinh thần của Đấng Sáng Lập với đường lối phục vụ Hội Thánh địa phương trong công tác mục vụ và truyền giáo, cùng chia sẻ việc giảng dạy giáo lý với các linh mục trong giáo phận, tôi luôn ý thức mình là công cụ truyền giáo của Giáo Hội, nhất là qua việc giới thiệu Chúa cho mọi người bằng những bài giáo lý, để đem tình yêu Chúa đến cho họ, giúp họ sống tốt ơn gọi kitô hữu của mình. Điều này là một niềm hạnh phúc giúp tôi vượt qua bao nhiêu thử thách trong việc tông đồ.

Lời của Đức Cha Giacôbê nói cho chị em Mến Thánh Giá Cái Mơn mà tôi đã thuộc nằm lòng và rất tâm đắc: “Tất cả cho Truyền giáo, hy sinh cho Truyền giáo.” Tư tưởng này thường nhắc nhở tôi phải trung thành với mục đích của việc dạy giáo lý trong ơn gọi Mến Thánh Giá của mình.

Một Nữ Tu

TRANG SỐNG ƠN GỌI

HUẤN NGÔN V/v DẠY GIÁO LÝ CỦA ĐTC PIÔ X

Trong lời tựa cho bản dịch cuốn Sách Giáo Lý của Đạo Lý Kitô (Catechism of Christian Doctrine) của Thánh Giáo Hoàng Piô X-Vị Thánh Giáo Hoàng duy nhất của thế kỷ XX.này, Mgrs. Kevane đưa ra nhận xét độc đáo sau:

“Được chính thức gọi là ‘Người Bảo Vệ Đức Tin’ khi Hội Thánh tôn phong hiển thánh cho ngài, Đức Giáo Hoàng Piô X là một vị lãnh đạo đầy diệu cảm vĩ đại trong số những giáo lý viên và thầy dạy Đức Tin Công Giáo trong thế kỷ XX. Thật hết sức tự nhiên và dễ hiểu để quay về với Vị Thánh Vĩ Đại của thế kỷ này khi vấn nạn là việc bỏ sót và xuyên tạc Đức Tin Kitô giáo đã lan tới các người bé nhỏ của Chúa Kitô…

“Theo giáo huấn của Thánh Piô X, có hai nguyên tắc căn bản điều hành việc hướng dẫn giáo lý của các chủ chăn, các bậc cha mẹ và các thầy cô phụ giúp các chủ chăn.

“Trước hết, việc giảng dạy giáo lý Đạo Lý Kitô này phải là một hệ quả của đời sống nội tâm của người dạy. Một đời sống cầu nguyện thiết thân là một điều phải có trước và một sự chuẩn bị không bỏ qua được.

“Thứ đến, ‘sự dốt nát về những điều thần thiêng’, mà trong Thông Điệp Acerbo Nimus Thánh Giáo Hoàng Piô X đã nhận thấy quá lan tràn trong Dân Thiên Chúa, không được chống trả bằng những dư luận mới mẻ, nhưng bằng việc hướng dẫn giáo lý một cách cẩn trọng, đầy đủ và chân thực. Việc hướng dẫn này phải là một việc giải thích đầy đủ và chi tiết Kinh Tin Kính, bản kinh tuyên xưng Đức Tin Công Giáo đến với chúng ta từ Các Tông Đồ. Thật là một công trạng lớn lao của Vị Giáo Hoàng thánh thiện này khi người nhận biết bản chất đích thực của chương trình tiêm nhiễm lạc thuyết duy tân trong việc giáo dục tôn giáo; đó là việc thay thế các chân lý của Đức Tin Công Giáo bằng những dư luận mới mẻ do con người dựng lên.

“Cũng chính Thánh Giáo Hoàng Piô X đã tung ra một phong trào canh tân giáo lý trong Giáo Hội Công Giáo trong thế kỷ này. Sự canh tân này đã đạt tới cao điểm trong Công Đồng Vatican II và trong Bản Chỉ Dẫn Giáo Lý Tổng Quát do Tòa Thánh ấn hành như kết quả của Công Đồng.

Ở cuối bản dịch cuốn Sách Giáo Lý của Đạo Lý Kitô của Thánh Piô X, Mgsr. Kevane đã cho phổ biến huấn ngôn của Thánh Piô về giáo lý dành cho các bậc cha mẹ và thầy cô. Theo Mgsr. Kevane, huấn ngôn này thực sự là một khảo luận tuyệt vời về mục đích, bản chất và phương thức đích thực của việc giảng dạy giáo lý.

Tin rằng huấn ngôn tuyệt vời này sẽ giúp ích rất nhiều cho các bậc cha mẹ và các giáo lý viên sứ mạng giáo dục đức tin cho con em mình, tôi xin chuyển dịch và gửi tặng quý vị huấn ngôn quý giá này như sau:Huấn ngôn về việc dạy giáo lý dành cho các bậc cha mẹ và thày cô Công giáo của Thánh Giáo Hoàng Piô X

1. Việc dạy giáo lý là việc hướng dẫn về đức tin và luân lý của Chúa Giêsu Kitô. Nó cho các con cái Chúa sự nhận thức về nguồn gốc, phẩm giá và số phận của họ cũng như sự hiểu biết về các bổn phận của họ. Nó gieo vào tâm trí và phát triển nơi trí khôn họ các nguyên tắc và động lực của tôn giáo, của nhân đức và của sự thánh thiện trong đời sống ở trần gian và rồi của hạnh phúc trên Thiên Đàng.

2. Việc dạy giáo lý vì vậy là việc cần thiết và ích lợi nhất đối với cá nhân, Hội Thánh và xã hội trần thế. Nó là việc giảng dạy căn bản nhất nơi nền tảng của đời sống Kitô hữu. Nơi nào việc giảng dạy giáo lý thiếu sót hay hời hợt, đời sống Kitô hữu nơi ấy sẽ yếu ớt, bấp bênh và dễ dàng suy giảm về sức mạnh.

3. Vì các bậc cha mẹ Kitô hữu là những nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu của con cái họ, họ phải là những giáo lý viên đầu tiên và chính yếu của chúng. Những giáo lý viên đầu tiên vì bổn phận của họ là phải làm cho con cái họ thấm nhuần đạo lý (doctrine), như những dưỡng chất đầu tiên, mà chính họ đã lãnh nhận từ Hội Thánh. Và những giáo lý viên chính yếu vì các bậc cha mẹ phải lo sao cho những điều chính yếu của đức tin phải được học biết ngay trong gia đình.Điều này phải bắt đầu với những kinh quan trọng nhất. Các bậc cha mẹ phải để ý trông nom sao cho chúng phải được đọc mỗi ngày để chúng dần dần thấm nhuần cách thẳm sâu vào linh hồn con cái họ.Hầu hết các bậc cha mẹ phải bó buộc ủy thác việc giáo dục con cái họ cho những người khác. Nhưng họ phải luôn nhớ đến trách nhiệm thánh thiêng của họ trong việc chỉ chọn lựa những trường sở và thày cô nào biết chu toàn bổn phận nghiêm trọng ấy thay cho họ như chính họ, và có lương tâm ước ao thực hiện như thế. Sự dửng dưng trong vấn đề này gây nên sự mất mát không sửa chữa được của bao trẻ em! Các bậc cha mẹ sẽ phải trả lẽ thế nào trước mặt Chúa về điều này!

4. Để có thể dạy đạo lý Công giáo có hiệu quả, cần phải biết rõ đạo lý đã rồi mới diễn tả và giải thích nó trong một cách thích hợp với khả năng của người học. Nhưng trên hết, vì giáo lý liên hệ đến một đạo lý sẽ được ứng dụng, các bậc cha mẹ và thầy cô cần phải sống đạo lý ấy ngay trong đời sống của chính họ.

5. Như chúng tôi đã nói, đạo lý Kitô phải được biết rõ; vì làm sao một người có thể hướng dẫn người khác về điều mà chính họ không được hướng dẫn? Vậy nên, các bậc cha mẹ và thầy cô có bổn phận chính họ phải ôn lại sách giáo lý, thấm nhuần chiều sâu của các chân lý trong ấy. Để thực hiện điều này, họ nên thường xuyên học hỏi những bài giảng giải rộng rãi hơn về đạo lý dành cho người lớn từ các linh mục trong xứ. Hơn nữa, họ nên tham khảo những người có khả năng và nếu có thể, họ nên đọc những sách tham khảo thích hợp.

6. Hơn nữa, như chúng tôi đã nói, họ nên giải thích các chân lý đức tin trong cách thức thích hợp với khả năng người học. Điều này có nghĩa là họ nên giải thích với sự thông minh và tình thương, trong một cách thức để con em đừng ghét bỏ hay khó chịu đối với người dạy hay đối với đạo lý đựơc dạy. Vậy nên mỗi người phải đặt mình vào trình độ của con em, dùng những từ ngữ thường được biết đến và đơn giản nhất, bày tỏ điều mình đang dạy bằng những ví dụ thích hợp và những minh họa đánh động đến tâm hồn của đứa trẻ. Người hướng dẫn phải có sự khôn ngoan và quân bình tế nhị nhất để khỏi làm mệt đứa bé. Sự tiến bộ phải từ từ. Thầy dạy phải sẵn lòng lập lại. Người dạy phải tiến hành với sự nhẫn nại và âu yếm, cảm thông cho sự quậy cựa, lo ra, bất nhẫn và những khuyết điểm khác thừơng thấy nơi trẻ em. Trên hết thầy dạy phải tránh lối dạy cách máy móc khiến đè nén tinh thần và để vấn đề mù mờ, chỉ đòi học thuộc mà không khơi dạy trí thông minh và tâm hồn của người học.

7. Cuối cùng, thầy dậy hoặc cha mẹ khi dạy phải sống đức tin và luân lý mà họ đang dạy. Nếu không, làm sao một người có đủ can đảm để dạy trẻ em một đạo giáo mà chính mình không thực hành, và những giới răn và lề luật mà mình bôi đen ngay trước mắt chúng? Và trong trường hợp như thế, người ta còn trông mong kết quả gì? Thực vậy, họ sẽ mang lại kết quả trái ngược: các bậc cha mẹ sẽ dễ dàng đánh mất thẩm quyền của chính họ, đào tạo con em họ trở nên lãnh đạm và ngay cả khinh thường đối với những nguyên tắc cần thiết nhất và những bổn phận thánh thiêng nhất của đời sống con người.

8. Có một cảnh huống đặc biệt hôm nay. Một bầu khí vô tín ngưỡng đã được tạo ra, gây nguy hiểm cho đời sống nội tâm và thiêng liêng. Bầu khí này gây chiến với bất cứ tư tưởng nào nhìn nhận thẩm quyền trên cao, bất cứ tư tưởng nào về Thiên Chúa, về mạc khải, về đời sau, và về sự hãm mình trong đời này. Vậy nên các bậc cha mẹ và thầy cô phải suy tính với sự cẩn trọng nhất những chân lý căn bản gặp thấy trong những câu hỏi đầu tiên trong sách giáo lý. Họ hãy gợi lên trong con em họ quan niệm Kitô hữu về sự sống, ý thức trách nhiệm trong mỗi hành vi nhân linh đối với Vị Thẩm Phán Tối Cao-Đấng ở khắp mọi nơi, thông biết mọi sự, nhìn thấy mọi sự. Họ hãy làm phát triển nơi người học, cùng với lòng kính sợ thánh thiêng đối với Thiên Chúa, một tình yêu dành cho Chúa Kitô và Hội Thánh, một sự cảm nếm của đức ái và của lòng đạo đức vững chắc. Họ hãy vun trồng nơi con em một lòng yêu mến nhân đức và các việc thực hành Kitô giáo. Chỉ có thế sự đào tạo trẻ em mới được xây dựng trên đá tảng của những xác tín siêu nhiên và không bị lật đổ suốt đời chúng, bất chấp những sóng gió cuộc đời. Bất cứ phương pháp nào khác là một cố gắng xây dựng sự đào tạo Kitô giáo trên cát của những ý kiến dễ đổi thay và sự cả nể phàm nhân.

9. Để nhận ra tất cả những điều này, các bậc cha mẹ và thầy cô phải có một đức tin sống động và một xác tín thẳm sâu đối với giá trị của linh hồn và của những lợi ích thiêng liêng. Họ phải có được thứ tình yêu khôn ngoan để biết tìm kiếm trên hết hạnh phúc đời đời của linh hồn của những người thân yêu của họ. Họ cần có một ơn đặc biệt để nắm bắt tư chất của mỗi đứa trẻ, tìm ra cách thích hợp để đến với trí khôn và tâm hồn của nó. Các bậc cha mẹ Công giáo nhờ ơn của Bí Tích Hôn Phối đã nhận lãnh cách xứng hợp sẽ được những ơn cần thiết cho bậc sống của họ, và như vậy cũng được những ơn cần thiết để giáo dục con cái họ trong đường lối Kitô giáo này. Hơn nữa, nhờ những lời cầu nguyện khiêm nhượng họ có thể đạt được những ơn phong phú hơn cho cùng một mục đích này, vì đây là một công việc làm đẹp lòng Chúa cách đặc biệt khi họ đào luyện con cái họ để thờ phượng Thiên Chúa như những Kitô hữu vâng phục và sốt sắng. Họ hãy chấp nhận mọi hy sinh để thực hiên điều đó: chính phần rỗi đời đời của linh hồn con cái họ đang gặp nguy, và cả phần rỗi đời đời của chính họ là những bậc cha mẹ nữa! Chúa sẽ chúc lành cho đức tin và đức mến của họ trong công việc tối quan trọng này, và sẽ trả công cho họ với phần thưởng đáng ao ước hơn cả, đó là cho con cái họ cùng với họ được đời đời thánh thiện và hạnh phúc trên thiên đàng.

Lm. JBT Phạm Quốc Hưng, CSsR

TRANG THIẾU NHI

Mục đích của việc dạy giáo lý

Năm vừa qua, cùng với Giáo Hội Việt Nam chúng ta đã sống năm giáo dục trong đời sống gia đình. Nhiệm vụ chính yếu của cha mẹ trong gia đình lo cho con cái được giáo dục đầy đủ. Được giáo dục đầy đủ nghĩa là con cái được lớn lên trong sự giáo dục mang ba chiều kích trí dục, thể dục và đức dục. Không thể thiếu một trong ba chiều kích này cho quá trình lớn lên của một con người.

Dầu vậy, trong thực tế ngày nay nhiều cha mẹ lại quên lãng cho con mình được giáo dục về chiều kích đức dục. Chiều kích đức dục bao gồm đời sống nhân bản và đời sống đức tin (nếu là người Kitô hữu).

Được lớn lên trong đời sống đức tin không cách nào khác cần phải được học giáo lý. Học giáo lý để biết Chúa, tin Chúa, yêu mến Chúa và để sống đạo tốt trong cương vị làm con Chúa.

Trước đây một thời gian, việc học và dạy giáo lý gặp nhiều khó khăn. Ngày nay, tình trạng ấy không còn nữa. Có nhiều lớp đạo tạo những chuyên viên dạy giáo lý ở nhiều cấp độ khác nhau. Nhiều họ đạo cũng mở được nhiều lớp giáo lý tùy theo từng lứa tuổi. Thật là may mắn biết bao cho thành phần trẻ trong thế giới ngày nay. Ước gì các bạn trẻ Công giáo biết tận dụng tốt những cơ hội quý báu này.

TRANG GIỚI TRẺ

GIÁO LÝ, VỐN SỐNG CHO ĐỜI

Học giáo lý chi nhiều? Nhiều người trước đây có hiểu biết nhiều đâu nhưng họ vẫn sống tốt đấy chứ! Có lẽ đó là suy nghĩ của người làm biếng nên thích viện nhiều lý do. Họ tìm đủ cách để biện minh cho sự biếng nhác của mình. Thực tế vẫn có những người hiểu ít về Chúa nhưng tin rất mạnh mẽ nơi Người. Nhưng liệu ngày nay ta tìm thấy được mấy người như thế trong cuộc sống đầy thực dụng và lắm bon chen.

Hình ảnh những người cầm chuỗi trên tay, miệng không ngớt cầu kinh giờ như dần vắng bóng. Mẫu người như Simêon hay bà Anna giờ cũng đã thưa dần. Người ta có vẻ sợ nhà thờ, ngại đọc kinh. Khi thói quen đạo đức đã không còn thì niềm tin cũng chẳng ăn sâu. Không thể tìm trái vả nơi bụi gai, thì cũng không thể tìm thấy hoa trái Thánh Thần nơi những người biếng nhát.

Một suy nghĩ có vẻ sai lầm khi cho rằng học giáo lý chỉ là việc học thêm khi rỗi rãnh. Học Giao lý khỏi phải mất một đồng xu nên dễ làm cho bạn trẻ xem thường, lầm tưởng cho đó là điều thứ yếu. Giáo lý không chỉ là mớ kiến thức hiểu biết về đạo nhưng đó là những hướng dẫn cụ thể và cần thiết cho cuộc sống. Ai coi Giáo lý là vốn sống cho cuộc đời người đó mới có cuộc sống trổ sinh nhiều hoa trái thiêng thiêng.

Với ý thức Giáo lý là vốn sống cho đời thì việc dạy Giáo lý không chỉ là truyền đạt kiến thức cho bằng muốn chuyển tải cho người học những kinh nghiệm đức tin. Hiểu biết Thiên Chúa nhiều sẽ dễ dàng nhận ra Ngài hiện diện trong cuộc sống. Mỗi người cần có trách nhiệm truyền dạy những kinh nghiệm đức tin cho nhau. Anh nói cho em, cha mẹ nói cho con cái, thầy dạy nói với học trò, bạn bè tâm sự với nhau…

Hãy nói với nhau về Chúa, hãy chia sẻ cho nhau về cách sống đạo ớ đời. Đó là những bài giáo lý dễ học, dễ dạy và dễ tạo ảnh hưởng sâu đậm cho nhau.

TRANG GIA ĐÌNH

GIA ĐÌNH, TRƯỜNG DẠY ĐỨC TIN

Khác với các tôn giáo khác, do con người tìm kiếm, hình thành, tổ chức, đạo công giáo là đạo của Thiên Chúa, con người nhận ra con đường của Chúa là do Chúa dạy, Chúa chỉ bảo, Chúa hướng dẫn mà chúng ta gọi là đạo mạc khải. Chúa nói ta mới biết, Chúa chỉ bảo ta mới hay, nên trong thư gửi tín hữu Do Thái, tác giả đã ghi: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài” (Dt 1,1-2). Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã nói với mười một môn đệ: “thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều thầy đã truyền cho anh em”.(Mt 28,18-20). Trong phạm vi bài này với góc cạnh gia đình chúng ta làm sáng tỏ vấn đề mục đích việc dạy giáo lý và học giáo lý với ba phần: đón nhận đức tin, sống đức tin và truyền bá đức tin.

1.Nhân loại là một gia đình có Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo dựng vũ trụ vạn vật và con người là hình ảnh của Thiên Chúa, Ngài vẫn tiếp tục bảo vệ và giúp chúng thăng tiến qua việc quan phòng kỳ diệu, do đó, mọi người điều là con một cha, là anh em của nhau, yêu thương và phục vụ lẫn nhau. Trong gia đình này Thiên Chúa là Cha dạy dỗ, chỉ bảo cho con người qua việc gặp gỡ và trò chuyện thân mật. Ngay trong cuộc sáng tạo, Thiên Chúa tạo dựng Ađam và Evà và mỗi ngày lúc chiều nắng dịu, gió thổi nhè nhẹ Chúa đến đi dạo với con người trong vườn địa đàng: “Nghe thấy tiếng Đức Chúa là Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, con người và vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn, để khỏi giáp mặt Đức Chúa” (St 6,5-9,17). Sau lụt Hồng Thuỷ Thiên Chúa gặp Abram, mời gọi, dạy bảo và hướng dẫn ông cùng gia đình trung thành thờ phượng Chúa (St 12,1-24,8) Chúa gặp gỡ và trò chuyện, giao nhiệm vụ cho Môisen giải phóng dân tộc Do Thái khỏi ách nô lệ Ai Cập (Xh 3,1-22). Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mạc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết Mầu Nhiệm Thánh Ý Người. Nhờ đó, loài người có thể đến được cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần vào bản tính của Thiên Chúa” (Dei Verbum).

Tại miền Xêdarê Philipphê, sau khi Phêrô tuyên xưng đức tin “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” Đức Giêsu nói với ông: “Này anh Simon, con ông Giona, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16,16-17).Đón nhận đức tin là do ơn của Chúa Cha “Chẳng ai đến với tôi được, nếu Chúa Cha là Đấng đã sai tôi, không lôi kéo người ấy, và tôi, tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết. Xưa có lời chép trong sách các ngôn sứ: “Hết mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy dỗ.

Vậy phàm ai nghe và đón nhận giáo huấn của Chúa Cha, thì sẽ đến với tôi” (Glcg 74). “Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứư độ nhận biết chân lý (1 Tm 2,4) tức là nhận biết Đức Giêsu Kitô (Ga 14,6)”(Glcg 74). Muốn đón nhận đức tin ta phải mở trí óc tìm kiếm, học hỏi và tìm hiểu Lời Chúa để Lời Chúa biến đổi và hướng dẫn đời ta. Tin là một sự dấn thân của toàn bộ con người. Để tin con người phải muốn, phải cố gắng từ bỏ mọi sự vác Thánh Giá theo Chúa, phải sống như Chúa Kitô sống. Tin là hồng ân Chúa ban nhưng không, ngày ta lãnh nhận Bí Tích Rửa tội. Để đón nhận đức tin, ta cần Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần tiếp giúp và “Không có Thầy chúng con không thể làm gì được” (Ga 15,5). Để sống đức tin ta cần nhiều ơn Chúa giúp.

2. Để sống đức tin chúng ta cần lãnh nhận Chúa Thánh Thần: “Không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thánh Thần của Thiên Chúa (1Cr 2,11). Thánh Thần mạc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa , biết Chúa Kitô là Ngôi Lời Hằng Sống” (Glcg 687) “Nếu không được Thánh Thần giúp sức cho, không ai có thể nói rằng: Đức Giêsu là Chúa (1 Cr 12,3)- Thiên Chúa đã sai Thánh Thần của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: “Abba, Cha ơi” (Gal 4,6). Nhận thức đức tin này chỉ có thể có được trong Thánh Thần. Muốn tiếp xúc với Đức Kitô, trước hết phải được Thánh Thần cảm hoá” (Glcg 683). Thánh Thần là Thầy dạy chân lý, giúp chúng ta nắm bắt toàn vẹn sự thật “Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em, nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi ( chưa hiểu được, chưa nhớ được). Khi nào Thánh Thần sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến” (Ga 16,12-13). Người sẽ thúc đẩy chúng ta học hỏi Lời Chúa để củng cố đức tin. Người là Thầy dạy chúng ta cầu nguyện và cầu nguyện thay cho chúng ta bằng những tiếng rên khôn tả. “Trong mọi hoạt động phụng vụ ( Thánh lễ, các Bí Tích và phụng vụ giờ kinh), Chúa Thánh Thần được cử đến giúp chúng ta hiệp thông với Chúa Kitô nhằm hình thành thân thể Người. Như nhựa sống trong cây nho của Chúa Cha, Chúa Thánh Thần trổ sinh hoa trái nơi các nhánh. Sự hợp tác thâm sâu nhất giữa Chúa Thánh Thần và Hội Thánh được thực hiện trong phụng vụ…Hiệu quả của Thánh Thần trong phụng vụ gắn liền với ơn hiệp thông Con người với Ba Ngôi Chí Thánh và hiệp thông huynh đệ (1 Ga 1,3-7)” (Glcg 1108) “Hội Thánh cầu xin Chúa Cha cử Chúa Thánh Thần đến làm cho đời sống tín hữu trở thành của lễ sống động dâng lên Thiên Chúa : nhờ được biến đổi nên giống hình ảnh của Chúa Kitô, nhờ biết chăm lo để Hội Thánh được hiệp nhất; và nhờ tham dự vào sứ mạng Chúa Kitô bằng việc làm chứng và thực thi đức mến” (Glcg 1109). Gia đình sống đức tin là gia đình sống kết hợp Chúa Ba Ngôi, có lương tâm ngay chính, biết phán đoán ngay thẳng, sống công bằng và yêu thương, hết lòng thờ phượng Chúa và quảng đại phục vụ anh em đặc biệt những người nghèo khổ, bất hạnh.

3. Gia đình đào sâu đức tin, sống đức tin vững chắc để truyền bá đức tin cho mọi người. “Bởi Hội Thánh là cuộc triệu tập tất cả mọi người để được cứu độ, nên Hội Thánh tự bản chất là thừa sai, được Chúa Kitô cử đến với muôn dân, để làm cho họ trở thành môn đệ của Người” (Glcg 767). Người Kitô hữu tham gia truyền bá đức tin bằng cuộc sống nhân chứng gắn bó với Chúa và gắn bó với nhau theo Thánh Ý Chúa: “ Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có một lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35). Giống như Thánh Nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu chúng ta ăn chay, hãm mình, hy sinh, cầu nguyện cho những người chưa có đức tin hay những người đã mất đức tin để có nhiều người trở về với Chúa. Bên cạnh đó gia đình tham gia vào việc truyền giáo trong họ đạo qua chương trình thăm viếng, làm quen, giúp đỡ những gia đình cần đến sự giúp đỡ trong khả năng của chúng ta về tinh thần và vật chất…Đặc biệt làm cho đời sống họ đạo thật sinh động lay động và lôi kéo những người chung quanh, chỉ đàng dẫn lối họ đến với Chúa, hướng dẫn họ biết Chúa yêu Chúa, phó thác và sống gắn bó với Chúa.

Trong cuốn sách giáo lý cho các em chuẩn bị Rước lễ vỡ lòng có câu hỏi: “Em học giáo lý để làm gì? Và câu trả lời: em học giáo lý để gặp gỡ Chúa, nghe lời Chúa dạy, tin cậy Chúa, yêu mến phụng thờ Chúa và yêu thương phục vụ mọi người như lòng Chúa mong ước”.

Ước gì gia đình chúng ta biết việc học hỏi giáo lý là cần thiết để chúng ta đôn đốc, thúc giục và giúp đỡ nhau chuyên chăm học giáo lý và Lời Chúa ngay nơi họ đạo chúng ta để xây dựng gia đình và họ đạo chúng ta mỗi ngày một tốt đẹp hơn.

TRANG QUƠÍ CHỨC

HỌC HỎI SẮC LỆNH TÔNG ĐỒ GIÁO DÂN.

Chương VI: Huấn Luyện Làm Tông Đồ

32. Phương thế huấn luyện

Người tông đồ giáo dân hiện nay có nhiều phương thế, chẳng hạn: những khóa học tập, những kỳ đại hội, những cuộc tĩnh tâm, linh thao, những buổi họp mặt thường xuyên, những buổi thuyết trình cũng như sách báo và những sách giải thích: tất cả đều là những phương thế giúp họ trau giồi thêm kiến thức về Thánh Kinh cũng như về giáo lý công giáo, giúp họ nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng cũng như giúp họ hiểu biết những hoàn cảnh sống của thế giới để khám phá và sử dụng những phương pháp thích ứng nhất 8.

Những phương thế huấn luyện này được sử dụng tùy theo các hình thức hoạt động tông đồ khác nhau cũng như tùy môi trường hoạt động.

Có nhiều trung tâm và nhiều viện cao đẳng cũng được thiết lập nhằm mục đích huấn luyện này đã đem lại nhiều kết quả mỹ mãn.

Thánh Công Đồng hoan hỷ vì thấy những sáng kiến như thế đang thịnh hành nhiều nơi và mong muốn thấy người ta thiết lập những cơ sở như thế ở những nơi đang cần thiết.

Hơn nữa Thánh Công Đồng cũng cổ võ sự thiết lập những trung tâm thu thập tài liệu và nghiên cứu cho hết mọi hoạt động tông đồ, không những về khoa thần học mà cả về các khoa học khác như nhân chủng học, tâm lý học, xã hội học, phương pháp học, để phát triển tài năng của giáo dân nam cũng như nữ, giới trẻ cũng như giới trưởng thành.

Gợi ý giải thích:

Văn ôn võ luyện, người giáo dân cần được huấn luyện, được bồi dưỡng nhờ những lần đại hội, những khoá huấn luyện…Được huấn luyện về những mặt nào: đạo, đời?

Gợi ý thực hành:

Quới Chức có được huấn luyện thường xuyên tại họ đạo mình không? Bao lâu một lần?Ông Bà Quới Chức cảm thấy mình cần được huấn luyện điều gì?

TRANG GIÁO LÝ VIÊN

dạy giáo lý là gì?

Dạy Giáo Lý chính là: trình bày Lời Chúa một cách đơn giản, cụ thể và sống động, để giúp các em có thể hiểu và sống Đức Tin. Từ rất sớm, người ta đã dùng thuật ngữ “Dạy Giáo Lý” để gọi toàn thể các nỗ lực trong Giáo Hội nhằm đào tạo các môn đệ, để giúp mọi người tin rằng Đức Giê-su chính là Con Thiên Chúa, để rồi nhờ Đức Tin và nhờ việc dạy dỗ ấy, họ được sống nhân danh Đức Ki-tô ngay giữa lòng đời, góp phần xây dựng Thân Mình của Đức Ki-tô là Giáo Hội.

I. NHẬN ĐỊNH VỀ VIỆC DẠY GIÁO LÝ LÂU NAY

Trước tiên chúng ta phải thay đổi cách suy nghĩ và cách làm lâu nay về công việc dạy Giáo Lý, đặc biệt đối với người Việt Nam chúng ta, với những hoàn cảnh thời đại và xã hội có quá nhiều hạn chế.

  • Dạy Giáo Lý không phải là dạy hỏi – thưa:

Do mức độ còn hạn chế tùy từng nơi, từng vùng, nhất là ở ngoại thành và thôn quê, một số chương trình Giáo Lý hiện nay vẫn xoay chung quanh việc hỏi – thưa, một cách hệ thống ngắn gọn, chắc ăn, dễ triển khai, dễ kiểm tra. Dù vậy, Giáo Lý Viên trong trường hợp này, vẫn phải tránh lối học từ chương, mà phải luôn cố gắng tổ chức buổi dạy Giáo Lý một cách sống động, có đối thoại, có hội thoại trao đổi, sao cho nội dung Giáo Lý không dừng lại ở từng câu từng chữ giảng máy móc và học thuộc lòng rồi trả bài làu làu như… vẹt !

  • Dạy Giáo Lý không phải là học kinh hạt

Trong giai đoạn còn quá khó khăn trước đây, khi còn thiếu nhiều Linh Mục, lại thiếu các Giáo Lý Viên được đào tạo có hệ thống, rất nhiều nơi đã phải đành chấp nhận chỉ dạy kinh hạt cho các em thiếu nhi thay vì dạy Giáo Lý. Một số Giáo Phận cũng đã cố gắng chuyển tải các điểm cốt yếu trong Giáo Lý bằng những bài thơ lục bát để giúp các em dễ nhớ, dễ thuộc. Dẫu sao, đó chỉ là cách ứng phó tạm thời và hạn chế ở mức độ thấp nhất của việc dạy Giáo Lý.

  • Dạy Giáo Lý không phải là dạy luân lý

Đương nhiên nội dung Giáo Lý có đưa ra một nếp sống luân lý Ky-tô giáo sâu sắc, nhưng không vì thế Giáo Lý Viên dừng lại ở mức độ liệt kê cho các học viên một loạt các điều cho phép được làm và một loạt các điều cấm không được làm trong đời sống đạo. Dạy Giáo Lý vượt lên trên cả những điều ấy khi mở ra cho người học một mối tương quan mật thiết và thấm thía với Thiên Chúa, với Giáo Hội và với tha nhân chung quanh trong cuộc đời.

  • Dạy Giáo Lý không phải là dạy thần học

Thần học là một khoa học chuyên biệt, với nhiều trường phái và quan điểm khảo cứu về Thiên Chúa ( Théologie ), nó cung cấp rất nhiều kiến thức, lý luận, nhận định có hệ thống chặt chẽ về Thiên Chúa, tuy đôi khi vẫn còn có thể gây ra nhiều tranh cãi đưa tới nhiều canh tân đổi mới.

Trong khi đó, việc dạy Giáo Lý, dẫu có vận dụng đến một số điểm thần học căn bản, lại muốn đưa các em đến Lòng Tin, Lòng Yêu Mến và Lòng Cậy Trông chân thành đối với Thiên Chúa, để rồi thể hiện cụ thể ra trong đời sống của mình, vượt qua mọi thứ kiến thức và lý luận của lý trí. Do vậy, học Giáo Lý dứt khoát không phải là để nghe những bài thuyết trình hùng hồn hấp dẫn về Thiên Chúa.

  • Dạy Giáo Lý không phải là loan báo Tin Mừng

Việc loan báo Tin Mừng là hoạt động truyền giáo, đem Lời Chúa đến với người chưa hề biết đạo là gì, chưa hề biết Chúa là Ai. Thường thì việc loan báo Tin Mừng đi trước, kế ngay sau đó là việc giảng dạy Giáo Lý.

Một số vùng truyền giáo ở thượng du phía Bắc và ở Tây Nguyên dành cho người dân tộc hiện nay, sau khi đã được loan báo Tin Mừng, dự tòng là người lớn và cả trẻ em có thể có nhiều năm liền để học Giáo Lý, trong khi bản thân họ vẫn mau mắn quay trở về loan báo Tin Mừng cho những người khác.

  • Dạy Giáo Lý không phải là dạy học như ở Phổ Thông

Việc dạy Giáo Lý, cho dẫu cũng dựa trên một số nguyên tắc sư phạm ( pédagogie) và phương pháp giáo dục ( méthodologie ) chung, nhưng lại vượt xa việc dạy học ở trường Phổ Thông ở chỗ: Giáo Lý giúp các em gặp gỡ Lời Chúa, gặp gỡ chính Thiên Chúa, khơi gợi và tăng cường Đức Tin ở tận thâm sâu tâm hồn các em và chuyển thành sự sống tôn giáo thiêng liêng.

  • Dạy Giáo Lý cũng chẳng phải là sinh hoạt tập thể

Khi dạy Giáo Lý ở các độ tuổi thiếu nhi và thiếu niên, đương nhiên cần phải có những sinh hoạt vui chơi hát hò, nhưng đó chỉ là một phương cách phụ trợ để gây bầu khí sống động hấp dẫn, góp phần rèn luyện cũng như giáo dục nhân bản cho các em. Cái chính yếu của việc dạy Giáo Lý vẫn là nhắm đến việc đào tạo các Ki-tô hữu, những môn đệ của Đức Ki-tô.

II. ĐỊNH NGHĨA VIỆC DẠY GIÁO LÝ

Tắt một lời, việc dạy Giáo Lý chính là: trình bày Lời Chúa một cách đơn giản, cụ thể và sống động, để giúp các em có thể hiểu và sống Đức Tin. Chữ dạy ở đây, theo nguyên ngữ Hy-lạp, không phải là “didaskein” (dạy các lý thuyết và kiến thức) , nhưng là “mateutein” (đào tạo thành những môn đệ). Từ rất sớm, người ta đã dùng thuật ngữ “Dạy Giáo Lý” để gọi toàn thể các nỗ lực trong Giáo Hội nhằm đào tạo các môn đệ, để giúp mọi người tin rằng Đức Giê-su chính là Con Thiên Chúa, để rồi nhờ Đức Tin và nhờ việc dạy dỗ ấy, họ được sống nhân danh Đức Ki-tô ngay giữa lòng đời, góp phần xây dựng Thân Mình của Đức Ki-tô là Giáo Hội.

Trong Tông Huấn Catechesi Tradendae (CT), Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô 2 đã ân cần dặn dò như sau: Dạy Giáo Lý là một giai đoạn hay một khía cạnh của việc Tin Mừng hóa, do đó, nội dung của Giáo Lý không gì khác hơn nội dung của Tin Mừng hóa: cũng một sứ điệp Tin Mừng cứu độ đã được nghe hằng trăm lần, và được tiếp nhận với tất cả lòng quý mến, sẽ luôn được đào sâu nhờ suy tư và nghiên cứu có hệ thống trong Giáo Lý (CT 26). Dạy Giáo Lý bao giờ cũng lấy nội dung từ nguồn mạch sống động là Lời Chúa được lưu truyền qua Thánh Truyền và Thánh Kinh, vì Thánh Truyền và Thánh Kinh hợp thành kho tàng thánh thiện duy nhất chứa đựng Lời Chúa và được giao phó cho Giáo Hội (CT 27).

III. DẠY GIÁO LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG MỤC VỤ CỦA GIÁO HỘI

Ở đây, chúng ta chỉ đề cập đến riêng hoạt động mục vụ rao giảng Lời Chúa của Giáo Hội bên cạnh việc cử hành các Bí Tích, tổ chức và quản trị cộng đoàn, tổ chức đời sống và các việc bác ái.

Mục vụ rao giảng Lời Chúa của Giáo Hội gồm có:

  • Tiền Phúc Âm hóa (Pré-Évangélisation )
  • Phúc Âm hóa hay loan báo Tin Mừng (Kérygme – Évangélisation)
  • Dạy Giáo Lý (Catéchèse)
  • Giảng thuyết (Homélie)
  • Thần Học (Didascalie)

Mục vụ Giáo Lý là hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu được học Giáo Lý của mọi thành phần tín hữu, để đưa cả cộng đoàn lẫn bản thân người tín hữu tới chỗ trưởng thành trong Đức Tin. Đặc biệt đối với trẻ em, sứ mệnh cao cả mà Thiên Chúa và Giáo Hội đã ủy thác cho các Giáo Lý Viên chính là: làm cho Ngôi Lời được sinh ra và lớn lên trong các em.

Ngoài ra, Tông Huấn Catechesi Tradendae còn nhắc nhở: Bản chất của việc dạy Giáo Lý gắn liền với tất cả các hoạt động Phụng Vụ và các Bí Tích, vì chính các Bí Tích và nhất là Bí Tích Thánh Thểlà nơi Đức Ki-tô hoạt động một cách sung mãn để biến đổi nhân loại.Việc dạy Giáo Lý sửa soạn cho việc lãnh nhận các Bí Tích (CT 23).

Việc dạy Giáo Lý là cần thiết, không những để làm cho Đức Tin của các Ki-tô hữu thêm chín chắn, mà còn để họ làm chứng trên toàn thế giới, sẵn sàng trả lời cho tất cả những ai chất vấn về niềm hy vọng của họ (CT 25 ).

Để được như thế, phải phân tích và đánh giá tình hình để tìm phương cách hoạt động hữu hiệu cho từng đối tượng. Việc giảng dạy Giáo Lý phải có đường hướng và nguyên tắc chỉ dẫn, có chương trình và kế hoạch, có tổ chức và phương pháp thích hợp, cũng như phải có những phương tiện cần thiết.

IV. VIỆC DẠY GIÁO LÝ CẦN ĐƯỢC CANH TÂN KHÔNG NGỪNG

Việc dạy Giáo Lý luôn luôn cần được canh tân cùng với từng biến chuyển lớn của thời đại và xã hội. Khi so sánh với Lời Chúa, Giáo Lý chỉ có giá trị tương đối. Lời Chúa mới có tính chất tuyệt đối. Do đó, Giáo Lý có thể và cần phải được thay đổi và cải tiến. Việc dạy Giáo Lý phải được canh tân không ngừng để Lời Chúa được diễn đạt đúng hơn, rõ hơn, sống động và hợp thời hơn.

Chính Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ 4 năm 1977 đã khẳng định trong Tông Huấn CatechesiTradendae: Việc canh tân Giáo Lý là một ân huệ quý giá của Chúa Thánh Thần ban cho Giáo Hội ngày nay (CT3).

Việc dạy Giáo Lý cần được canh tân liên tục và quân bình về phương pháp, về việc tìm kiếm một ngôn ngữ thích hợp, về việc khai thác các phương tiện mới mẻ để truyền thông sứ điệp (CT 17).

Giáo Hội phải tỏ ra khôn ngoan, can đảm và trung thành với Tin Mừng trong việc tìm kiếm và vận dụng các đường lối và bối cảnh mới mẻ cho việc dạy Giáo Lý ( CT 17 ).

Việc dạy Giáo Lý hiện nay cần được canh tân vì 2 lý do:

– Thế giới ngày nay biến chuyển không ngừng biến chuyển một cách sâu xa, khoa học kỹ thuật phát triển quá nhanh đưa tới tình trạng tục hóa, giải thiêng. Thời chiến tranh lạnh giữa các cường quốc đã chấm dứt. Mặt khác, nhân loại đặc biệt coi trọng các giá trị nhân văn và xã hội, đặt nặng tinh thần phục vụ hữu hiệu.

– Trong khi đó, chính đời sống của Giáo Hội cũng có những đổi thay khi các giá trị cổ truyền bị lung lay, một số đông tín hữu tỏ ra lãnh đạm với các sinh hoạt tôn giáo, thậm chí đánh mất Đức Tin. Ngược lại, Công Đồng Va-ti-ca-nô 2 được triệu tập, cùng với việc xuất hiện rất nhiều phong trào thiêng liêng hoạt động rất tích cực, đã khiến cho Giáo Hội mở ra cả một bình minh rực rỡ và lạc quan.

V. KẾT LUẬN

Như vậy, mọi thành phần trong Giáo Hội cần phải đổi mới cách nhìn (tư duy), nhận thức việc dạy Giáo Lý là một nhiệm vụ ưu tiên và tối quan trọng của Giáo Hội, là nhiệm vụ của mọi Ki-tô hữu nhằm giáo dục Đức Tin và đào tạo nên những người Ki-tô hữu trưởng thành. Ngoài ra, còn phải đổi mới cả cách làm (hành động) trong việc soạn thảo những nội dung chương trình hợp lý và sâu sắc, chọn được những hình thức giảng dạy phong phú, đầu tư vật chất và nhân sự của Giáo Hội cho việc dạy Giáo Lý.

Riêng với các Giáo Lý Viên, trong tư cách là người đảm nhận việc dạy Giáo Lý, phải luôn chuyên cần học hỏi Lời Chúa, phải kết thân sâu xa với Đức Ki-tô, phải có tinh thần cầu nguyện, biết sẵn sàng từ bỏ chính mình trong công việc phục vụ.

(Theo Vietcatholic)

TẢN MẠN

“CÓ” ĐẠO

Một lần tình cờ đi thăm một gia đình đình công giáo, tôi thật sự ngỡ ngàng vì gia đình ấy sống rất gần nhà thờ vậy mà nhiều năm rồi không thấy những người trong gia đình đi tham dự thánh lễ. Hỏi ra thì tôi nhận được câu trả lời như thế này: Cha ơi! Con con nó đủ phép hết rồi, Rước lễ, Thêm Sức, Bao đồng đủ hết rồi đó cha. Tôi hỏi tiếp: Sao ít thấy gia đình mình tham dự thánh lễ vậy? Bà vợ trả lời: Trời ơi! Cha ơi, tụi nó đầu tắt mặt tối lo làm ăn, để khi nào khá khá hơn rồi tụi nó đi lễ cha hé. Cha thông cảm cho nó đi. Một câu chuyện tưởng đùa nhưng có thật 100%, nghe qua mà đau đớn lòng. Việc giữ đạo cũng giống như chiếm hữu một tài sản nào đó, cho có, cho đủ rồi làm của để dành. Còn việc sống đạo giống như là việc phải giữ đối với ông cha, “cha thông cảm dùm” một cụm từ nghe rất quen thuộc nhưng sau đau đớn quá trong đời sống đức tin. Do đâu mà người tín hữu có tư tưởng “có” đạo như của để dành như thế, và làm thế nào để người tín hữu thật sự có một đức tin trưởng thành?

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng người tín hữu sống đạo như là cho “có” một tài sản nào đó để dành mai sau trình diện trước mặt Chúa. Nhưng thiết nghĩ, tình trạng ấy đang hiện diện ở các họ đạo là do tình trạng không được học giáo lý kéo dài mà ngày nay chúng ta phải nhận kết quả.

Sau năm 1975 do tình hình xã hội, việc dạy giáo lý ở các họ đạo hầu như bị ngưng trệ, các họ đạo cố gắng dạy giáo lý bằng mọi cách có thể. Nhưng những cố gắng ấy chỉ là tạm bợ, là chấp vá. Học cho thuộc một vài kinh, cách xét mình, cám ơn rước lễ….một vài điều rất rất là căn bản được truyền đạt cách sơ sài, lén lút. Tình trạng ấy kéo dài khoảng hơn 25 năm, một khoảng thời gian đủ để đào tạo cả một thế hệ. Với tình trạng thiếu vốn liếng giáo lý kéo dài như thế thì không thể tránh khỏi việc giữ đạo cho có tên tuổi, có danh sách.

Hậu quả mà ngày nay chúng ta đang phải đón nhận chính cách nghĩ và cách sống của một số người tín hữu đó là việc giữ đạo như là một cái gì thêm vào cho cuộc sống chứ không phải là chính yếu cho đời sống. Vì thế, chúng ta thường nghe câu này nơi cửa miệng của người tín hữu: Con nghèo quá không giữ đạo được, con không có giờ giữ đạo, … Có phải vì nghèo nên không thể theo Chúa không? Hay là vì ta chưa nhận thấy tình thương cũng như là ân sủng Thiên Chúa tặng ban cho những ai liên kết với Chúa, hay vì tôi yếu kém giáo lý nên tôi chưa nhận ra. Không phải Chúa thiên vị nhưng liên kết với Chúa như là tiếng vâng để Thiên Chúa thực hiện quyền năng của Người. Chúa Giêsu ngày xưa có đến với người nghèo khổ bệnh tật không? Nếu có thì tại sao ta lại nói: tôi nghèo khó, tôi không có giờ…

Một hậu quả nữa của việc thiếu vốn liếng giáo lý đó là tình trạng nghi hoặc, thiếu đức tin. Có hay không ngày sau? Có Thiên Chúa không? Có thưởng phạt không? … cùng với sự hoành hành của chủ nghĩa duy vật, người tín hữu dần dà rơi vào cái bẫy của chủ nghĩa vật chất. Sống sao cho thoải mái, xả láng, chỉ biết có ngày hôm nay. “Có” đạo như là một tấm thẻ thông hành để sau này lỡ gặp Chúa thì có mà qua cửa, hay tâm lý nghĩ rằng “còn lâu mà” bây giờ phải lo tận hưởng những cực lạc mà trần gian mang lại đã, Thiên Chúa là Đấng nhân từ thì mai mốt hãy lo liệu dù sao mình cũng “có” đạo, tới ngày cuối cùng cũng được làm lễ an táng ở nhà thờ, chôn cất nơi đất thánh, Giáo hội có bỏ mình đâu.

Với những hậu quả tiêu biểu trên đây cho ta thấy được việc dạy và học giáo lý là hết sức cần thiết trong đời sống người Kitô hữu. Học giáo lý để biết Chúa cũng như tình thương của Người, học giáo lý để biết sống đức tin và tích cực đi trên con đường theo Chúa như thánh Phaolô “Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống, mà là Chúa Kitô sống trong tôi” (Gl 2, 20). Có biết Chúa, có đi trên con đường Chúa chỉ dạy thì mới gặp được Chúa, gặp được Chúa thì mới múc lấy được nguồn sống từ nơi Chúa. Ước gì các họ đạo biết quan tâm đến việc dạy giáo lý như là nền tảng cho việc đào luyện đức tin trưởng thành cho người tín hữu .

CHUYỆN THƯỜNG NGÀY

TRUNG THỰC BẮT ĐẦU TỪ ĐÂU ?

Tôi có đứa cháu học mẫu giáo ở một trường công lập uy tín. Một buổi chiều đến đón cháu, tình cờ nghe được câu chuyện của cô giáo và các cháu trong lớp, không biết nên khóc hay nên cười.

Hôm nay, còn hơn một tiếng mới hết giờ, cô giáo nói với các cháu:

Mai có đoàn thanh tra về kiểm tra lớp mình các con ạ. Cô sẽ cho một vài bạn ở nhà chơi một bữa. Các bạn Dương, Hùng, Trâm, Thảo được nghỉ. Các con nhớ về nói lại với bố mẹ nhé!

Cả lớp nhốn nháo, vài em giơ tay nói:

Thưa cô, sao con được nghỉ ạ? Con có đau ốm gì đâu?

Ừ, nhưng Trâm chưa ngoan, chưa chăm nên không học giỏi bằng các bạn. Đoàn kiểm tra về, lớp mình phải toàn là những con học giỏi, các con hiểu không?

Những đứa bé vẫn ngơ ngác, cô vội nói:

Thôi, cô cho các con nghỉ sớm. Giờ các con đem đồ chơi ra chơi với nhau, chờ bố mẹ đến đón nghe!

Tôi thấy buồn vô hạn. Lòng trung thực phải được đặt nền móng từ những bước đi đầu tiên, được truyền lại từ những người lớn, là người có ảnh hưởng đến chúng ta nhiều nhất. Và trường mẫu giáo là một trong những nơi đặt nền móng ấy. Vậy mà, ngay từ bước làm nền, từ những ngày đầu tiên uốn nắn nhân cách của một con người, chúng ta đã dạy cho các em thiếu trung thực.

NGUYỄN THÀNH GIANG (Báo Thanh Niên số 5127 )

SỐNG ĐẸP

CHẬM HIỂU

Ngày mới cưới nhau, mỗi lần nhắc tới em, má hay nói: “Cái con vợ mày…”. Mấy dấu chấm lửng phía sau thường đi kèm với những lời phiền trách. Khi thì “đàn bà con gái gì mà đi đứng như dông, như gió”, khi lại là “có cái miệng sao không nói mà chỉ cười trừ khi người ta nói không đúng về mình?”…Khi má nói vậy, em chỉ cười chứ không giải thích hay chống chế.

Năm tháng trôi qua. Em vẫn đi đứng “như dông, như gió”, vẫn nói ít, cười nhiều; vẫn thích mua sắm “vung tay” nhưng phần nhiều là cho người thân chứ không phải cho mình; vẫn ân cần bóp chân tay, nhổ tóc sâu cho má mỗi khi rảnh rỗi…

Được một thời gian thì ba má cho chúng mình ra riêng. Những khi bận bịu, em không về được, anh đi một mình thì lại nghe má nói: “Cái con vợ mày…”. Ra là má nhớ em, má thấy thiếu vắng cái dáng lăng xăng cơm nước, dọn dẹp; má thèm được nghe tiếng em cười giòn tan quên cả ý tứ…Em biết vậy nên rảnh lúc nào thì lại chạy về với má. Nhìn cảnh mẹ chồng, con dâu quấn quít, nhiều khi anh quên mất rằng mình mới là ruột thịt của má…

Rồi má trở bệnh. Hôm đó, em lại đi công tác xa. Má gọi các con về. Má căn dặn từng đứa như thể bầy con của má mới lên măn, lên mười. Đến lượt anh, má nắm tay anh thật chặt: “Con bảo con Thư giữ gìn sức khoẻ. Má thấy nó chỉ biết lo cho người khác…Mà con cũng không được ăn hiếp nó…”.

Lần đầu tiên khi nhắc tới em, anh không nghe má nói câu quen thuộc “cái con vợ mày”. Tối đó, má đi. Giờ anh mới thấm thía những yêu thương chất chứa trong câu nói tưởng chừng quê mùa, cục mịch ấy. Riêng em thì ngay từ đầu, em đã hiểu, phải không?

YÊN PHONG (Báo Người Lao Động, số 4892)

SỐNG LỜI CHÚA

“Tin Mừng là sức mạnh Thiên Chúa dùngđể cứu độ bất cứ ai có lòng tin” (Rm 1,16).

3254



Các câu hỏi về dạy giáo lý là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê dạy giáo lý là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé

Related Posts

About The Author